Lưu trữ Blog

Được tạo bởi Blogger.

Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013

Tình trạng vi phạm kiểu dáng công nghiệp (KDCN) ở nước ta ngày càng phổ biến, phức tạp và đa dạng. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đến vấn đề này, hoặc nếu có quan tâm thì lại gặp rất nhiều khó khăn khi phải đối phó với những vi phạm. Bài viết phân tích thực trạng vi phạm và tình hình xử lý vi phạm KDCN hiện nay, đồng thời đề xuất những giải pháp khắc phục.

THỰC TRẠNG VI PHẠM KDCN
Theo thống kê, mỗi năm Cục Quản lý Thị trường (Bộ Công thương) phát hiện và xử lý hàng nghìn vụ việc liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa có kiểu dáng “cải tiến” của các kiểu dáng đã được đăng ký bảo hộ KDCN. Thực trạng này không những gây thiệt hại cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính cả về uy tín và doanh thu mà còn trực tiếp gây thiệt hại đến quyền lợi người tiêu dùng.

Từ lâu, cái tên Duy Lợi đã trở nên rất quen thuộc trong ngành võng xếp Việt Nam về cuộc chiến chống hàng giả, hàng nhái. Sau hành trình khó khăn, tốn kém, năm 2004, Công ty TNHH Duy Lợi đã thắng một vụ kiện tại Nhật Bản và năm 2005 đã thắng một vụ kiện khác tại Mỹ về việc vi phạm KDCN. Tuy nhiên, không lâu sau đó, Duy Lợi lại phải đau đầu vì tình trạng vi phạm kiểu dáng võng xếp của doanh nghiệp ở thị trường ViệtNam. Năm 2005, Duy Lợi tuyên bố có tất cả 16 cơ sở, doanh nghiệp sản xuất võng xếp vi phạm kiểu dáng độc quyền sản phẩm võng xếp của mình.

Một ví dụ điển hình khác về vi phạm KDCN là trường hợp xe máy Honda. Thời gian gần đây, nhiều người tiêu dùng bất ngờ thấy có những địa chỉ ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh rao bán các dòng xe Honda Spacy, SCR, AirBlade… với giá 16 triệu đồng/chiếc, thậm chí rẻ hơn. Theo giá niêm yết của Honda, hiện nay Honda Spacy chính hãng nhập khẩu có giá trên 90 triệu đồng/chiếc, còn xe AirBlade giá cũng khoảng trên 30 triệu đồng/chiếc. Như vậy, giá những chiếc xe “chợ đen” nêu trên được rao bán rẻ hơn rất nhiều so với xe gốc. Các sản phẩm xe máy chợ đen không chỉ nhái kiểu dáng bên ngoài, mà còn dán nhãn và gắn mác Honda lên trên sản phẩm. Theo ước tính của các chuyên gia, mỗi năm, thị trường Việt Nam tiêu thụ khoảng hơn 1 triệu chiếc xe máy giả, nhái, trong đó có đến 50% là xe giả, nhái Honda!


Tuy nhiên, không chỉ có các mặt hàng có giá trị lớn mới bị vi phạm quyền KDCN mà cả các mặt hàng có giá trị kinh tế thấp như kem xoa bóp, chai, lọ đựng sản phẩm, thậm chí cả đến bộ khay thờ cúng cũng bị vi phạm KDCN. Các cơ sở sản xuất hàng chợ đen thường lợi dụng uy tín của các doanh nghiệp với sản phẩm đã có thương hiệu để làm nhái, làm giả về kiểu dáng, bao bì, thậm chí nhãn mác. Thực trạng vi phạm ngày càng phức tạp, đa dạng, thiết nghĩ không chỉ gây thiệt hại cho doanh nghiệp và người tiêu dùng, mà đã trở thành mối lo ngại chung của toàn xã hội, gây cản trở đến sự phát triển kinh tế.

Có nhiều lý do khiến tình hình vi phạm KDCN ngày càng trở nên phổ biến và phức tạp. Trước hết, đó là vì hành vi sản xuất hàng giả, hàng nhái luôn tạo ra siêu lợi nhuận. So với hàng thật, hàng giả có mẫu mã, kiểu dáng giống hàng thật, nhưng có giá thành thấp hơn nhiều, do đó thường được khách hàng lựa chọn. Thứ hai, nhiều chủ sở hữu KDCN chưa thực sự ý thức và chú ý đến việc đăng ký bảo hộ độc quyền kiểu dáng sản phẩm của mình, chưa có kế hoạch bảo vệ tài sản sở hữu trí tuệ (SHTT) một cách khoa học. Thực tế, có rất ít doanh nghiệp Việt Nam có bộ phận chuyên chăm lo về SHTT, do đó việc phát hiện vi phạm SHTT nói chung và vi phạm về KDCN nói riêng thường không kịp thời. Một lý do nữa là, việc xử lý vi phạm KDCN mới chủ yếu dừng ở mức xử phạt hành chính, mức phạt cũng chưa đủ sức răn đe đối với đối tượng thực hiện hành vi vi phạm.

TÌNH HÌNH XỬ LÝ VI PHẠM KDCN

Hiện nay, Việt Nam đã có đủ các biện pháp, chế tài xử lý các hành vi vi phạm về SHTT nói chung và KDCN nói riêng. Tuy nhiên, công tác thực thi nhìn chung còn yếu, hầu như mới sử dụng biện pháp xử phạt hành chính (vì quy trình giải quyết đơn giản và nhanh nhất). Các biện pháp xử lý hình sự còn phức tạp, tốn kém và chủ thể quyền SHTT thường gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện bảo vệ quyền SHTT của mình bằng biện pháp này.

Thông thường, trong trường hợp xảy ra vi phạm KDCN, việc giải quyết được thực hiện theo những bước sau: Điều tra thu thập chứng cứ vi phạm; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thẩm định, đánh giá chứng cứ vi phạm; soạn thảo văn bản cảnh báo bên vi phạm, đàm phán với bên vi phạm để yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết vi phạm khi không đạt được mục đích thông qua thương lượng, đàm phán.

Theo quy định của pháp luật SHTT hiện hành, chủ thể quyền SHTT phải gửi thông báo bằng văn bản yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và cơ quan thực thi chỉ vào cuộc nếu hành vi vi phạm của bên vi phạm vẫn diễn ra sau khi đã được cảnh báo. Chúng tôi cho rằng, việc yêu cầu bên bị xâm phạm phải có văn bản cảnh báo như vậy là không cần thiết, đôi khi còn “đánh động” bên xâm phạm, dẫn đến những hành động tẩu tán hoặc tiêu huỷ tang vật, chứng cứ. Sự không phù hợp này sẽ được loại bỏ khi Luật SHTT sửa đổi có hiệu lực áp dụng vào năm 2010. Theo đó, doanh nghiệp bị xâm phạm về SHTT chỉ cần chứng minh được hành vi cố ý xâm phạm quyền SHTT của họ là sẽ được thụ lý giải quyết theo trình tự hành chính (thay vì phải tự gửi thông báo tới đối tượng vi phạm và chờ đợi một khoảng thời gian để đối tượng “khắc phục khuyết điểm” như Luật hiện hành).

Một bất cập lớn trong việc thực thi quyền SHTT hiện nay là thiếu sự phối hợp xử lý một cách khoa học của các cơ quan chuyên trách. Hiện nay Việt Nam có tới 6 cơ quan được giao trách nhiệm bảo đảm thực thi về SHTT là toà án; quản lý thị trường; thanh tra (KH&CN, Văn hoá – Thể thao và Du lịch, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn); công an; hải quan; UBND các cấp. Mặc dù thẩm quyền của mỗi cơ quan đã được quy định rõ trong Nghị định 106 nhưng vẫn có hiện tượng chồng chéo. Điều này không chỉ khiến các chủ thể quyền SHTT lúng túng khi muốn liên lạc mà còn làm chính những cơ quan thực thi này nảy sinh tâm lý đùn đẩy, chờ đợi, dẫm chân lên nhau hoặc mạnh ai nấy làm. Việc có quá nhiều cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý trong khi sự phối hợp giữa các cơ quan này còn chưa hợp lý, khiến hiệu lực thi hành bị phân tán và trở nên phức tạp, gây ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi.
Cho đến nay, chưa có một cuộc điều tra tổng hợp nào về tình hình vi phạm SHTT nói chung và vi phạm KDCN nói riêng tại Việt Nam, mà mỗi cơ quan thực thi lại hoạt động độc lập, đưa ra những con số khác nhau, chưa kể số liệu đưa ra thường không cập nhật. Rõ ràng, chúng ta đang thiếu một đầu mối thống nhất để liên lạc trong trường hợp xảy ra vi phạm quyền SHTT nói chung, quyền KDCN nói riêng.
Trên thực tế, các cơ quan thực thi ở Việt Nam khi xử lý vi phạm thường vẫn còn tâm lý “giơ cao đánh khẽ” và luôn cân nhắc đến khả năng thực tế thi hành nên mức phạt đưa ra thường thấp, do đó không đủ sức răn đe đối với đối tượng vi phạm. Ngoài ra, bản thân các cán bộ chuyên trách xử lý vi phạm chưa hoàn toàn tự tin trong khâu xử lý do năng lực còn yếu, nên thường phải yêu cầu có ý kiến chuyên môn của Cục SHTT trong việc đánh giá hành vi, mức độ vi phạm. Sự phối hợp giữa các cơ quan này cũng chưa hợp lý, dẫn đến kéo dài thời gian xử lý.

BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ QUYỀN KDCN

Trước tình hình vi phạm ngày càng trở nên phổ biến, tinh vi, việc bảo vệ quyền KDCN rất cần sự vào cuộc của toàn xã hội. Tuy nhiên, bản thân doanh nghiệp phải là người chủ động trong việc bảo vệ quyền KDCN của mình. Trước hết, doanh nghiệp phải có ý thức đăng ký bảo hộ KDCN cho sản phẩm do mình sản xuất ra. Tiếp theo, khi đối mặt với hành vi vi phạm quyền KDCN của mình, doanh nghiệp phải tiến hành ngay các công việc cần thiết để yêu cầu cơ quan thực thi xử lý kịp thời các hành vi vi phạm.
Về phía Nhà nước, cần cải cách bộ máy hành chính và phân công lại chức năng, quyền hạn của từng cơ quan thực thi quyền SHTT theo hướng bố trí một cơ quan làm đầu mối tiếp nhận, thụ lý các đơn yêu cầu xử lý hành chính, từ đó đề xuất các biện pháp xử lý. Tăng cường công tác thanh tra và sự phối kết hợp của các cơ quan chức năng để xử lý kịp thời khi phát hiện vi phạm. Bên cạnh đó, cần sắp xếp lại và tăng cường năng lực của các cơ quan thực thi.
Việc bổ sung, hoàn thiện khung pháp lý để có đủ các chế tài xử lý và xử lý hiệu quả là rất cần thiết. Có nhiều ý kiến cho rằng, cần tăng mức phạt xử lý vi phạm hành chính đến mức đủ sức răn đe. Ngoài ra, cần phải bổ sung cơ sở để xác định mức phạt một cách cụ thể vào các văn bản pháp luật hiện hành. Hiện nay, do gặp khó khăn trong việc xác định mức phạt, nhiều cơ quan thực thi thường “ước lệ” mức phạt, và cũng do tâm lý luôn cân nhắc đến khả năng thi hành nên mức phạt đưa ra thường thấp so với giá trị hàng hóa bị vi phạm. Theo Luật SHTT (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ năm 2010, mức phạt tiền ít nhất bằng giá trị hàng hóa vi phạm đã phát hiện được và nhiều nhất không vượt quá 5 lần giá trị hàng hóa vi phạm đã phát hiện được như quy định trước đây (khoản 4 Điều 214 Luật SHTT cũ) được thay thế bằng mức phạt do Chính phủ quy định phù hợp với pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính (tối đa là 500 triệu đồng). Tuy nhiên, căn cứ để xác định mức phạt này vẫn còn chưa rõ ràng, chưa kể mức phạt tối đa được quy định là 500 triệu đồng nếu xét tới các hành vi vi phạm quyền SHTT mang lại lợi nhuận cao như sản xuất, lắp ráp ôtô, xe máy và phụ tùng là còn quá thấp.
Biện pháp trước mắt là phải tiến hành phổ cập kiến thức về SHTT cho toàn xã hội. Từ các doanh nghiệp chủ thể quyền SHTT, đến người dân và đặc biệt là các cán bộ chuyên trách trong xử lý vi phạm. Cuối cùng, nên cân nhắc đến việc hình thành tòa án SHTT chuyên xử lý các vụ vi phạm về quyền SHTT. Ở một số nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ và ngay cả ở châu Á như Malaysia, Singapore đã có tòa án SHTT riêng, bao gồm các thẩm phán và cả các chuyên gia trong lĩnh vực SHTT, nên việc xử lý vi phạm quyền SHTT rất hiệu quả. Tuy nhiên, trong khi chưa thành lập được tòa án chuyên môn, cần thành lập cơ quan trọng tài SHTT gồm đại diện các cơ quan chuyên trách để có thể đưa ra những ý kiến thống nhất trong việc xử lý vi phạm, giúp bảo vệ quyền SHTT nói chung và quyền KDCN nói riêng cho các doanh nghiệp một cách kịp thời, hiệu quả.
Chiều qua, đi làm về thì nhận được cuốn này. Bản đặc biệt, dày hơn 900 trang, giấy thơm tho, sờ cũng thích mà ngửi cũng thích; càng thích hơn vì tôi - đây là bí mật - chưa bao giờ có một cuốn sách nào của Sơn Nam trong nhà.





Sáng, đến văn phòng lại nhận được hai cuốn này. Cuốn của Phan Việt, tôi thích bìa trong (giữa) hơn bìa ngoài (phải). Bìa trong nom châu Âu hơn, còn bìa ngoài trông hơi ảm

Thứ Tư, 30 tháng 1, 2013

Đăng ký tên thương mại - Là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

Điều kiện bảo hộ đối tên thương mại

Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh, cụ thể phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
• Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng;
• Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh;
• Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng.

Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại

• Được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng hợp pháp tên thương mại đó tương ứng với khu vực (lãnh thổ) và lĩnh vực kinh doanh mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký.

Phạm vi quyền đối với tên thương mại
• Được xác định theo phạm vi bảo hộ tên thương mại, gồm tên thương mại, lĩnh vực kinh doanh và lãnh thổ kinh doanh trong đó tên thương mại được chủ thể mang tên thương mại sử dụng một cách hợp pháp.
• Việc đăng ký tên gọi của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong thủ tục kinh doanh không được coi là sử dụng tên gọi đó mà chỉ là một điều kiện để việc sử dụng tên gọi đó được coi là hợp pháp.

Nội dung công việc thực hiện bởi Topiclaw:
• Tư vấn về việc lựa chọn và bảo hộ tên thương mại;
• Tư vấn về các vấn đề khác có liên quan như: vấn đề chủ sở hữu, vấn đề cho phép sử dụng tên thương mại, bảo vệ tên thương mại…
• Tư vấn các vấn đề khi xảy ra tranh chấp liên quan đến việc sử dụng tên thương mại;
• Thực hiện các thủ tục đăng ký tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
• Đại diện cho khách hàng làm việc với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
• Theo dõi các hành vi xâm phạm tên thương mại, tiến hành lập hồ sơ tranh tụng khi cần thiết;
• Soạn công văn trả lời phúc đáp khi xảy ra tranh chấp tên thương mại với các chủ đơn khác;
• Các công việc liên quan khác theo uỷ quyền.
Theo Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ về bảo hộ quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến SHCN thì tên thương mại là một trong những đối tượng được bảo hộ quyền SHCN thuộc “các đối tượng khác” theo Điều 780 Bộ luật Dân sự ngày 28/10/1995.

Tên thương mại được bảo hộ là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh, đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

a) Là tập hợp các chữ cái, có thể kèm theo chữ số, phát âm được;
b) Có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với các chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh.

Các tên gọi sau đây không được bảo hộ dưới danh nghĩa là tên thương mại:

a) Tên gọi của các cơ quan hành chính, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoặc các chủ thể không liên quan tới hoạt động kinh doanh;

b) Tên gọi nhằm mục đích thực hiện chức năng của tên thương mại nhưng không có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh của các cơ sở kinh doanh trong cùng một lĩnh vực;

c) Tên thương mại gây nhầm lẫn với tên thương mại của người khác đã được sử dụng từ trước trên cùng một địa bàn và trong cùng một lĩnh vực kinh doanh, gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đã được bảo hộ từ trước khi bắt đầu sử dụng tên thương mại đó. (Điều 14 - Nghị định 54/NĐ-CP)

Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại là tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó (Điều 15).

Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại

1. Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại có quyền sử dụng tên thương mại vào mục đích kinh doanh bằng cách dùng tên thương mại để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại đó trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hoá, bao bì hàng hoá và quảng cáo.

2. Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại có quyền chuyển giao tên thương mại theo hợp đồng hoặc thừa kế cho người khác với điều kiện việc chuyển giao phải được tiến hành cùng với toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó. (Điều 16)

Tuy nhiên thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh ở Việt Nam cho thấy hiện tượng trùng “tên thương mại” là vấn đề thường gặp đối với các doanh nghiệp đang vươn lên trở thành tập đoàn hay các doanh nghiệp theo mô hình doanh nghiệp mẹ - con. Theo Điều 14 Nghị định 54 quy định: Tên thương mại được bảo hộ là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh đáp ứng đủ các điều kiện sau: Là tập hợp các chữ cái, có thể kèm theo chữ số phát âm được; Có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh trong cùng lĩnh vực. Một doanh nghiệp khi được thành lập hợp pháp lấy tên thương mại đáp ứng đủ những điều kiện trên theo Điều 14 Nghị định 54 thì tên thương mại đó được tự động bảo hộ mà không cần phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là điểm khác biệt so với các đối tượng SHCN khác.

Giả sử một doanh nghiệp là: Cty TNHH ABC thành lập năm 2000 tại Hà Nội với 4 lĩnh vực hoạt động chính là: sản xuất gỗ dán; sản xuất máy tính; vận tải hành khách trong chiến lược kinh doanh vươn lên trở thành tập đoàn hoá năm 2004 sẽ mở rộng thêm ở 2 lĩnh vực là: may công nghiệp; cho thuê tài chính. Năm 2003 một doanh nghiệp khác cũng có tên là Cty TNHH ABC (2) được thành lập trên địa bàn Hà Nội với 2 lĩnh vực: cho thuê tài chính và may công nghiệp. Khi đó 2 doanh nghiệp trên vẫn tồn tại hợp pháp với cùng 1 tên thương mại vì không cùng lĩnh vực kinh doanh. Nhưng khi Cty TNHH ABC (1) mở rộng hoạt động kinh doanh thêm 2 lĩnh vực như trên thì vấn đề đặt ra là tên thương mại của 2 doanh nghiệp có trùng không và xử lý như thế nào?

Việc Cty TNHH ABC (1) mở rộng thêm hoạt động kinh doanh ở 2 lĩnh vực: Cho thuê tài chính và may công nghiệp sẽ dẫn đến hiện tượng 2 doanh nghiệp có cùng tên thương mại trong cùng lĩnh vực kinh doanh. Giả sử cho rằng Cty TNHH ABC (1) đăng ký bổ sung ở thời gian sau nên đã vi phạm quy định tại điểm C khoản 2 Điều 14 NĐ 54: “Tên thương mại gây nhầm lẫn với tên thương mại của người khác đã được sử dụng từ trước trên cùng 1 địa bàn và trong cùng lĩnh vực kinh doanh...”. Như vậy có hợp lý không khi tên thương mại của Cty TNHH ABC (1) xuất hiện trước. Và sự tồn tại của tên thương mại của 2 doanh nghiệp trên là hoàn toàn hợp pháp và đã được bảo hộ tự động khi mới thành lập. Giả sử nếu Cty TNHH ABC (1) phải đổi tên thương mại mới được đăng ký bổ sung thì có hợp lý và công bằng không khi tên thương mại đó đã tồn tại và có thể đã được khách hàng biết đến (như một thương hiệu) trong suốt những năm qua nhờ chính sách quảng bá và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Còn nếu đổi tên thì về cơ bản phải xây dựng hình ảnh của doanh nghiệp lại từ đầu.

Mặt khác, khách hàng tiêu dùng hoặc sử dụng dịch vụ có thể sẽ dễ nhầm lẫn sản phẩm và dịch vụ của Cty TNHH ABC (1) là của Cty TNHH ABC (2). Vậy nếu sản phẩm, dịch vụ của một trong 2 doanh nghiệp cung cấp không đảm bảo chất lượng hay yêu cầu thì khách hàng sẽ bị nhầm tưởng và dễ có phản ứng (như khiếu nại, khiếu kiện, tẩy chay hàng hoá...). Khi đó uy tín và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp làm tốt sẽ bị ảnh hưởng. Vậy họ sẽ phải làm gì để bảo vệ chính mình?

Đây quả là một vấn đề không dễ giải quyết khi doanh nghiệp kia đang hoạt động hợp pháp. Hiện pháp luật chưa có quy định về vấn đề này khiến nhiều doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chịu thiệt hại.

Xem thêm: Vấn đề Bảo hộ tên Thương mại
1. Khái niệm cơ bản

Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

Quyền đối với tên thương mại chỉ được chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó.

Chủ sở hữu tên thương mại là tổ chức, cá nhân sử dụng hợp pháp tên thương mại đó trong hoạt động kinh doanh.

Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó

2. Sử dụng tên thương mại

Sử dụng tên thương mại là việc thực hiện hành vi nhằm mục đích thương mại bằng cách dùng tên thương mại để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hoá, bao bì hàng hoá và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo.

Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại.

3. Khả năng phân biệt của tên thương mại

Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng;

b) Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh;

c) Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng.

4. Điều kiện chung đối với tên thương mại được bảo hộ

Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

5. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa tên thương mại

Tên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoặc chủ thể khác không liên quan đến hoạt động kinh doanh thì không được bảo hộ với danh nghĩa tên thương mại.


Điều 76. Điều kiện chung đối với tên thương mại được bảo hộ

Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

Điều 77. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa tên thương mại

Tên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoặc chủ thể khác không liên quan đến hoạt động kinh doanh thì không được bảo hộ với danh nghĩa tên thương mại.

Điều 78. Khả năng phân biệt của tên thương mại

Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1. Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng;

2. Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh;

3. Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng.
Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân sử dụng trong hoạt động kinh doanh, dùng để nhạn biết và phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vưc (Khoản 21 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ)




Về cơ bản, do được sử dụng trong hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp, nên tên thương mại sẽ phải đáp ứng các yêu cầu mà pháp luật doanh nghiệp dành cho tên doanh nghiệp.


Theo đó, tên thương mại phải là tập hợp các chữ, phát âm được và có nghĩa. Tên thương mại gồm hai phần: phần mô tả và phần phân biệt. Phần mô tả là tập hợp các từ có nghĩa mô tả tóm tắt loại hình kinh doanh. Phần phân biệt là tập hợp các chữ cái phát âm được, có thể có nghĩa hoặc không có nghĩa. Ví dụ: với tên “Tạp chí Thương hiệu Việt”, phần mô tả là “Tạp chí" không có khả năng phân biệt với các tạp chí khác, phần phân biệt là "Thương hiệu Việt". Hiện nay, tên thương mại thường là tên doanh nghiệp.

Bảo vệ tên thương mại và điều kiện bảo hộ tên thương mại

Bảo vệ tên thương mại. Với cơ sở và nội dung quyền được bảo hộ đối với tên thương mại như trên, các doanh nghiệp nên thường xuyên kiểm tra, kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm để ngăn chặn các chủ thể khác sử dụng tên thương mại của mình.

Bởi pháp luật quy định thời hiệu để xử lý hành vi vi phạm tên thương mại là một năm tính từ ngày phát hiện hành vi đó, nhưng không quá ba năm tính từ ngày hành vi vi phạm xảy ra.

Có nghĩa là nếu doanh nghiệp không sớm phát hiện hành vi vi phạm, khi quá thời hiệu xử lý hành vi vi phạm thì doanh nghiệp sẽ rất khó ngăn chặn người vi phạm tiếp tục sử dụng; từ đó sẽ gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp sở hữu hợp pháp tên thương mại.

Điều kiện bảo hộ tên thương mại.
Để tên thương mại được bảo hộ theo pháp luật Sở hữu trí tuệ, nhìn chung, tên thương mại phải có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh. Ngoài ra, tên thương mại còn phải đáp ứng một số yêu cầu khác, đó là:
- Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi;
- Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

- Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng.
Cũng do tên thương mại thường là tên doanh nghiệp hoặc được sử dụng thường xuyên trong hoạt động kinh doanh của mỗi chủ thể kinh doanh, nên quyền sở hữu tên thương mại được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng hợp pháp tên thương mại đó tương ứng với khu vực và lãnh thổ kinh doanh, mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký tên thương mại đó tại cục Sở hữu trí tuệ. Điều này khác với việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với các chỉ dẫn đầu tư khác như nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, những đối tượng này cần phải đăng ký mới được bảo hộ.  xem thêm đăng ký tên thương mại.

Quyền sử dụng tên thương mại


Sử dụng tên thương mại. Một khi đã sở hữu hợp pháp quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại, chủ thể sở hữu sẽ được quyền: sử dụng tên thương mại vào mục đích kinh doanh bằng cách dùng tên thương mại để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại đó trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hóa, bao bì hàng hóa và quảng cáo; chuyển giao tên thương mại theo hợp đồng hoặc thừa kế cho người khác với điều kiện việc chuyển giao phải được tiến hành cùng với toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó; yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm tên thương mại.

Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013


Triển lãm các tác phẩm Mỹ thuật và Nhiếp ảnh sáng tác về đề tài Hoa phượng và thành phố Hoa phượng đỏ, do sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hải Phòng phối hợp với Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Hải Phòng tổ chức.
Lễ trao giải, khai mạc: 16h ngày 29/1/2013
Triển lãm mở cửa đến ngày 20/2/2013 (11 Tết)
Địa điểm: Trung tâm Triển lãm và Mỹ thuật thành phố Hải Phòng.

Một số hình ảnh trong ngày khai mạc:

Ông Vi Kiến Thành, Cục trưởng cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm phát biểu khai mạc

Trao giải nhất cho hai tác giả Đức BiênMai Duy Minh

Ông Đoàn Duy Linh và ông Tô Hoàng Vũ trao giải nhì cho các tác giả:
Khắc Nghi, Việt Anh, Vũ Dũng, Minh Nhật

Họa sĩ Việt Anh giới thiệu về tác phẩm

Các nụ cười rạng rỡ

Chụp ảnh lưu niệm cùng tác giả đoạt giải nhất Mỹ thuật

Các tác phẩm Mỹ thuật đoạt giải:

Giải Nhất
Mai Duy Minh - Gia đình xích lô - Sơn dầu (200cm x 180cm)

Giải Nhì
Khắc Nghi - Vũ điệu chèo - Xi măng (Cao 90cm)

Giải Nhì
Việt Anh - Tháng Năm - Sơn mài (150cm x 120cm)

Giải Ba
Phạm Văn Thuận - Phố cũ ven sông - Khắc gỗ (100cm x 90cm)

Giải Ba
Xuân Diệu - Hoa trên bến - Lụa (100 cm x 80cm)

Giải Ba
Đoàn Tuyên - Phố Tam Bạc - Sơn dầu (100cm x 100cm)

Giải Khuyến Khích
Phạm Ngọc Lâm - Mẹ bầu Cổ Am - Đồng (164cm x 164cm)

Giải Khuyến Khích
Nguyễn Viết Thắng - Cột đèn - Gốm sa mốt (Cao 70cm)

Giải Khuyến Khích
Bùi Duy Khánh - Sóng - Màu nước (75cm x 52cm)

Giải Khuyến Khích
Tiến Nhấn - Heo may - Sơn dầu (100cm x 80cm)

Giải Khuyến Khích
Lê Văn Lương - Chợ làng biển - Sơn dầu (80cm x 60cm)

Giải Khuyến Khích
Phạm Hoàng Hà - Cô gái và hoa phượng - Sơn dầu (65cm x 125cm)

Giải Khuyến Khích
Đặng Hướng - Hát văn - Khắc gỗ (139cm x 106cm)

Các tác phẩm Nhiếp ảnh đoạt giải:


Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013



Lệ phí đăng ký kiểu dáng công nghiệp
Để đăng ký kiểu dáng công nghiệp, người nộp đơn phai nộp các khoản phí và lệ phí quy định (tại Thông tư số 22/2009/TT-BTC ngày 04/02/2009 của Bộ Tài chính),bao gồm các khoản sau (chưa bao gồm phí dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp) gồm:  
STT
Các khoản phí,lệ phí
Lệ phí (đồng)
1
Lệ phí nộp đơn (cho mỗi phương án)
 
  Tài liệu đơn dạng giấy
180.000
  Đơn kèm tài liệu điện tử mang toàn bộ nội dung tài liệu đơn
150.000
2
Lệ phí yêu cầu hưởng quyền ưu tiên (mỗiđơn/yêu cầu)
600.000
3
Lệ phí công bố đơn
120.000
  Nếu có trên 1 hình, từ hình thứ hai trở đi phải nộp thêm cho mỗi hình
60.000
4
Phí thẩm định nội dung (cho mỗi phương án của từng sản phẩm)
300.000
5
Phí tra cứu thông tin phục vụ việc thẩm định nội dung (cho mỗi phương án sản phẩm)
120.000
6
Lệ phí đăng bạ Bằng độc quyền KDCN
120.000
7
Lệ phí cấp Bằng độc quyền KDCN
120.000
8
Lệ phí công bố Bằng độc quyền KDCN
120.000
  Nếu có trên 1 hình,từ hình thứ hai trở đi phải nộp thêm cho mỗi hình
60.000
9
Lệ phí gia hạn hiệu lực
660.000


Một kiểu dáng công nghiệp tăng thêm giá trị cho sản phẩm của bạn. nó làm cho sản phẩm hấp dẫn và thu hút khách hàng.

Vì vậy bảo hộ các kiểu dáng giá trị là một phần có tính quyết định trong chiến lược kinh doanh của bất kỳ nhà thiết kế và sản xuất nào.

Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp bằng cách đăng ký ở cơ quan đăng ký quốc gia, bạn sẽ có được độc quyền để ngăn chặn người khác sao chép hoặc nhái lại nếu không được bạn uỷ quyền. Điều này tạo nên ý nghĩa kinh doanh bởi nó tăng khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp và tăng thêm doanh thu bằng một hay nhiều cách sau:

Ngăn chặn đối thủ cạnh tranh sao chép hoặc nhái lại, và do đó tăng cường vị thế cạnh tranh của bạn .

Đăng ký một kiểu dáng giá trị góp phần thu lại vốn đầu tư thích đáng dành cho sáng tạo và marketing sản phẩm có liên quan, do đó tăng lợi nhuận.

Kiêu dáng công nghiệp là tài sản kinh doanh mà có thể tăng gía trị thương mại của một công ty và sản phẩm của nó.

Một kiểu dáng đựoc bảo hộ cũng có thể được cấp phép sử dụng (hoặc bán) cho người khác để lấy tiền. bằng cách cấp phép sử dụng kiểu dáng, bạn cũng có thể thâm nhấp thị trường mà bạn đang không thể phục vụ ở một mặt nào đó.

Đăng ký kiểu dáng công nghiệp khuyến khích cạnh tranh công bằng và thực hành thương mại trung thực.


Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp .

Để giúp khách hàng nắm được trình tự đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp, Tư Vấn Việt đưa ra quy trình đăng ký bảo hộ như sau:


1. Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp
Văn bằng bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp được gọi là “ Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp ”. Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 5 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ, và có thể được gia hạn liên tiếp hai (2) lần, mỗi lần là 5 năm.



2. Quyền nộp đơn kiểu dáng công nghiệp
Quyền nộp kiểu dáng công nghiệp, trước hết thuộc về tác giả hoặc người thừa kế hợp pháp của tác giả;
Nếu kiểu dáng công nghiệp được tạo ra khi tác giả thực hiện nhiệm vụ do Tổ chức mà tác giả là thành viên giao cho hoặc được tác giả tạo ra chủ yếu do sử dụng kinh phí, phương tiện vật chất của Tổ chức, thì quyền nộp đơn kiểu dáng công nghiệp đó thuộc về Tổ chức giao việc hoặc Tổ chức cung cấp kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả;
Nếu kiểu dáng công nghiệp được tạo ra do tác giả thực hiện Hợp đồng thuê việc với Tổ chức hoặc cá nhân khác, và trong Hợp đồng không có thoả thuận nào khác, thì quyền nộp đơn kiểu dáng công nghiệp thuộc về Tổ chức hoặc cá nhân đã ký Hợp đồng đó với tác giả.
Người nộp đơn kiểu dáng công nghiệp có thể chuyển giao quyền nộp đơn, kể cả đơn đã nộp, cho cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác thông qua văn bản chuyển giao quyền nộp đơn.



3. Hồ sơ đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp
Bao gồm các tài liệu sau đây:
+ Tờ khai yêu cầu cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp (Tờ khai) được làm theo Mẫu do Cục SHTT ban hành;
+ Bản mô tả kiểu dáng công nghiệp;
+ Bộ ảnh chụp hoặc bộ ảnh vẽ kiểu dáng công nghiệp;
+ Tài liệu xác nhận quyền nộp đơn hợp pháp, nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền nộp đơn của người khác (Giấy chứng nhận quyền thừa kế; Giấy chứng nhận hoặc Thoả thuận chuyển giao quyền nộp đơn; Hợp đồng giao việc hoặc Hợp đồng lao động), gồm một (1) bản;
+ Tài liệu xác nhận quyền sở hữu nhãn hiệu, nếu kiểu dáng công nghiệp có chứa nhãn hiệu, gồm một (1) bản;
+ Giấy uỷ quyền (nếu cần);
+ Bản sao đơn đầu tiên hoặc tài liệu chứng nhận trưng bày tại triển lãm, nếu trong đơn có yêu cầu được hưởng quyền ưu tiên theo Điều ước quốc tế, gồm một (1) bản;
+ Chứng từ nộp phí nộp đơn và phói công bố đơn, gồm một (1) bản.
+ Bản tiếng Việt của bản mô tả kiểu dáng công nghiệp, nếu trong đơn đã có bản tiếng Anh/Pháp/Nga của tài liệu đó;
+ Tài liệu xác nhận quyền sơ hữu nhãn hiệu;
+ Bản gốc của Giấy uỷ quyền, nếu trong đơn đã có bản sao;
+ Bản sao đơn đầu tiên hoặc tài liệu chứng nhận trưng bày tại triển lãm, kể cả bản dịch ra tiếng Việt.
Bản mô tả kiểu dáng công nghiệp phải trình bày đầy đủ, rõ ràng bản chất của kiểu dáng công nghiệp và phải phù hợp với bộ ảnh chụp hoặc bộ hình vẽ và bao gồm các nội dung sau:
+ Tên sản phẩm hoặc bộ phận sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp;
+ Chỉ số Phân loại Kiểu dáng công nghiệp Quốc tế (theo Thoả ước Locarno);
+ Lĩnh vực sử dụng của sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp;
+ Các kiểu dáng công nghiệp tương tự đã biết;
+ Liệt kê ảnh chụp hoặc hình vẽ;
+ Bản chất của kiểu dáng công nghiệp, trong đó cần nêu rõ đặc điểm tạo dáng cơ bản của kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ khác biệt với kiểu dáng công nghiệp tương tự đã biết. Bộ ảnh chụp hoặc hình vẽ phải thể hiện đầy đủ bản chất của kiểu dáng công nghiệp như đã được mô tả nhằm xác định phạm vi (khối lượng) bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đó. ảnh chụp/hình vẽ phải rõ ràng và sắc nét, không được lẫn các sản phẩm khác với sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ. Tất cả các ảnh chụp/hình vẽ phải theo cùng một tỉ lệ. Kích thước mỗi ảnh chụp/hình vẽ không được nhỏ hơn (90 x 120)mm và không được lớn hơn (210 x 297) mm.


Tra cứu đăng ký kiểu dáng công nghiệp là tra cứu trước khi nộp đơn đăng ký, kết quả tra cứu sẽ cho thấy kiểu dáng công nghiệp của doanh nghiệp có trùng hoặc tương tự với kiểu dáng công nghiệp của bên thứ ba


đã đăng ký tại Việt Nam cho cùng loại sản phẩm hay không.

Tra cứu hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.

Kiểu dáng công nghiệp là thành quả đầu tư của doanh nghiệp, có nghĩa là doanh nghiệp phải đầu tư tài chính, nhân lực vào quá trình thiết kế và cần phải đăng ký sở hữu trí tuệ cho tài sản của mình.

Tuy nhiên, trước khi nộp đơn chính thức thì cần đánh giá khả năng đăng ký kiểu dáng công nghiệp, kết quả tra cứu sẽ được gửi đến doanh nghiệp trong 02 -03 tháng kể từ ngày nộp đơn.

Tài liệu tiến hành tra cứu là bộ ảnh mẫu kiểu dáng sản phẩm cần tra cứu (chụp theo hướng dẫn của S&B Law) để chúng tôi thành lập bộ hồ sơ tra cứu kiểu dáng công nghiệp.


Khi nộp đơn đăng ký kiểu dáng, ngoài đơn đăng ký, bản mô tả kiểu dáng, người nộp đơn còn phải chuẩn bị ảnh chụp, bản vẽ kiểu dáng công nghiệp. Đây là một công việc đòi hỏi những chuyên gia, luật sư có kinh nghiệm tiến hành, vì vậy, người nộp đơn nên tiến hành tham vấn để có những bộ ảnh chụp và bản vẽ phú hợp.
Theo quy định tại Thông tư 01, các quy định về bản vẽ, ảnh chụp kiểu dáng được quy định như sau:

Người nộp đơn phải nộp 05 bộ ảnh chụp hoặc 05 bộ bản vẽ kiểu dáng công nghiệp. Bộ ảnh chụp, bản vẽ phải thể hiện đầy đủ các đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ đến mức căn cứ vào đó, bất kỳ người nào có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng đều có thể xác định được kiểu dáng công nghiệp đó và theo các hướng dẫn sau đây:
a) Ảnh chụp, bản vẽ phải rõ ràng, sắc nét; bản vẽ phải được thể hiện bằng đường nét liền; nền ảnh chụp, bản vẽ phải có màu đồng nhất và tương phản với kiểu dáng công nghiệp; trên ảnh chụp, bản vẽ chỉ được thể hiện sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ (không kèm theo sản phẩm khác).
b) Ảnh chụp, bản vẽ phải thể hiện kiểu dáng công nghiệp theo cùng một tỷ lệ. Kích thước của kiểu dáng công nghiệp trong ảnh chụp, bản vẽ không được nhỏ hơn 90mm x 120mm và không được lớn hơn 190mm x 277mm.
c) Ảnh chụp, bản vẽ phải thể hiện kiểu dáng công nghiệp theo cùng một chiều và lần lượt theo thứ tự: hình phối cảnh (ba chiều) của kiểu dáng công nghiệp, hình chiếu của kiểu dáng công nghiệp từ phía trước, từ phía sau, từ bên phải, từ bên trái, từ trên xuống, từ dưới lên; các hình chiếu phải được thể hiện chính diện.
d) Đối với kiểu dáng công nghiệp có hình chiếu đối xứng thì ảnh chụp, bản vẽ có thể không cần thể hiện thêm các hình chiếu đối xứng, với điều kiện phải nêu rõ điều đó trong phần liệt kê ảnh chụp, bản vẽ thuộc bản mô tả.
e) Đối với kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm có thể khai triển được (ví dụ: hộp đựng, đồ bao gói...), các hình chiếu của kiểu dáng công nghiệp có thể được thay thế bằng ảnh chụp, bản vẽ kiểu dáng công nghiệp ở trạng thái đã khai triển.
g) Tuỳ thuộc vào mức độ phức tạp của kiểu dáng công nghiệp, có thể cần phải có thêm ảnh chụp, bản vẽ phối cảnh từ các góc độ khác, mặt cắt, hình phóng to bộ phận, hình chi tiết rời của sản phẩm... đủ để thể hiện rõ các đặc điểm tạo dáng mới, khác biệt của kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ.
h) Đối với sản phẩm có các trạng thái sử dụng khác nhau (ví dụ: sản phẩm có nắp hoặc có thể gập lại được), phải có ảnh chụp, bản vẽ kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm ở các trạng thái khác nhau.
i) Đối với kiểu dáng công nghiệp của bộ phận của sản phẩm hoàn chỉnh, phải có thêm ảnh chụp, bản vẽ minh hoạ vị trí lắp đặt, sử dụng bộ phận trên sản phẩm hoàn chỉnh.
k) Mỗi phương án của kiểu dáng công nghiệp phải có bộ ảnh chụp, bản vẽ thể hiện đầy đủ từng phương án theo quy định tại điểm này.
l) Đối với bộ sản phẩm phải có hình phối cảnh của cả bộ sản phẩm và bộ ảnh chụp, bản vẽ của từng sản phẩm trong bộ đó theo quy định tại điểm này.


Khi tiến hành thủ tục nộp đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp, ngoài đơn đăng ký, người nộp đơn cần phải chuẩn bị một bản mô tả kiểu dáng công nghiệp. Vì là tài liệu kỹ thuật, vì vậy, luật quy định những quy định về bản mô tả phải đáp ứng các điều kiện sau:a) Tên kiểu dáng công nghiệp: là tên của chính sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp, được thể hiện bằng các từ ngữ thông dụng, không mang tính chất quảng cáo, không chứa ký hiệu, chú thích, chỉ dẫn thương mại;

b) Lĩnh vực sử dụng kiểu dáng công nghiệp: là lĩnh vực sử dụng cụ thể của sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp, trong đó nêu rõ mục đích sử dụng của sản phẩm đó;

c) Kiểu dáng công nghiệp tương tự gần nhất: nêu rõ kiểu dáng công nghiệp ít khác biệt nhất với kiểu dáng công nghiệp của cùng loại sản phẩm nêu trong đơn, đã được biết đến một cách rộng rãi trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên (nếu đơn có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên), trong đó phải chỉ ra nguồn thông tin bộc lộ công khai kiểu dáng công nghiệp tương tự gần nhất đó;

d) Liệt kê ảnh chụp hoặc bản vẽ: liệt kê lần lượt các ảnh chụp, bản vẽ phối cảnh (ba chiều), hình chiếu, mặt cắt... của kiểu dáng công nghiệp, phù hợp với số thứ tự được ghi của ảnh chụp, bản vẽ;

e) Phần mô tả kiểu dáng công nghiệp phải đáp ứng các quy định sau đây:

(i) Bộc lộ hoàn toàn bản chất của kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ, trong đó phải nêu đầy đủ các đặc điểm tạo dáng thể hiện bản chất của kiểu dáng công nghiệp, đồng thời phải chỉ ra các đặc điểm tạo dáng mới, khác biệt so với kiểu dáng công nghiệp tương tự gần nhất nêu tại điểm 33.5.c trên đây, phù hợp với các đặc điểm tạo dáng được thể hiện trong bộ ảnh chụp, bản vẽ;

(ii) Các đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ phải được trình bày lần lượt theo thứ tự: các đặc điểm hình khối, đường nét, tương quan giữa các đặc điểm hình khối và/hoặc đường nét, các đặc điểm màu sắc (nếu có);

(iii) Đối với sản phẩm có các trạng thái sử dụng khác nhau (ví dụ: sản phẩm có nắp hoặc có thể gập lại được...), phải mô tả kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm ở các trạng thái khác nhau;

(iv) Nếu kiểu dáng công nghiệp gồm nhiều phương án thì phải chỉ rõ các đặc điểm khác biệt của những phương án còn lại so với phương án cơ bản (phương án đầu tiên nêu trong đơn);

(v) Nếu kiểu dáng công nghiệp là kiểu dáng của bộ sản phẩm thì phải mô tả kiểu dáng của từng sản phẩm trong bộ đó.

g) Phạm vi bảo hộ kiểu dáng công nghiệp (hoặc “yêu cầu bảo hộ”): phải liệt kê đầy đủ các đặc điểm tạo dáng cần và đủ để xác định bản chất kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ và phạm vi quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp, được thể hiện trên ảnh chụp, bản vẽ nêu trong đơn, bao gồm các đặc điểm tạo dáng mới, khác biệt so với kiểu dáng công nghiệp tương tự đã biết.

Trên đây là phần yêu cầu mô tả được quy định tại Thông tư 01 của Bộ Khoa học công nghệ, người nộp đơn cần liên hệ với các luật sư, chuyên gia để viết bản mô tả được chính xác và đầy đủ.


1. Trong quá trình thẩm định nội dung, thẩm định viên phải đánh giá sự phù hợp giữa đối tượng nêu trong đơn và loại văn bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp. Đối tượng nêu trong đơn bị coi là không phù hợp với loại văn bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp nếu:
a) Đối tượng đó không phải là hình dáng bên ngoài của sản phẩm;
b) Đối tượng nêu trong đơn là:
(i) Hình dáng bên ngoài của sản phẩm do đặc tính kỹ thuật của sản phẩm bắt buộc phải có;
(ii) Hình dáng bên ngoài của công trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp;
(iii) Hình dáng bên trong (phần không nhìn thấy được) trong quá trình sử dụng sản phẩm (khai thác công dụng của sản phẩm theo cách thức thông thường, được thực hiện bởi bất kỳ người sử dụng nào, không kể các công việc bảo trì, bảo dưỡng hoặc sửa chữa sản phẩm).

2. Thông tư 01 cũng quy định về việc tra cứu thông tin trong việc thẩm định đơn đăng ký kiểu dáng, cụ thể như sau:

a) Mục đích tra cứu thông tin
Mục đích tra cứu thông tin là tìm kiếm trong nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc các kiểu dáng công nghiệp trùng lặp hoặc tương tự với kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn.
b) Nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc được sử dụng trong quá trình thẩm định nội dung đơn bao gồm các tài liệu sau đây:
(i) Các đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp đã được Cục Sở hữu trí tuệ tiếp nhận và có ngày công bố đơn sớm hơn ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đang được thẩm định (nếu đơn được hưởng quyền ưu tiên);
(ii) Các đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp và các văn bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp do các tổ chức, quốc gia khác công bố trong vòng 25 năm trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đang được thẩm định (nếu đơn được hưởng quyền ưu tiên), được lưu giữ trong cơ sở dữ liệu kiểu dáng công nghiệp hiện có tại Cục Sở hữu trí tuệ;
(iii) Các thông tin khác liên quan đến kiểu dáng công nghiệp do Cục Sở hữu trí tuệ thu thập và lưu giữ;
(iv) Các đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp đã được Cục Sở hữu trí tuệ tiếp nhận và có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên (nếu đơn được hưởng quyền ưu tiên) sớm hơn ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đang được thẩm định (dùng để kiểm tra nguyên tắc nộp đơn đầu tiên quy định tại điểm 35.9 của Thông tư này).
c) Trong trường hợp cần thiết và có thể, việc tra cứu được mở rộng hơn so với nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc.

3. Báo cáo tra cứu
Kết quả tra cứu phải được thể hiện trong báo cáo tra cứu, trong đó phải ghi rõ lĩnh vực tra cứu, phạm vi tra cứu, kết quả tìm kiếm trong phạm vi đó (thống kê và chỉ rõ các kiểu dáng công nghiệp đối chứng tìm được, nguồn gốc thông tin, ngày công bố của thông tin tương ứng) và phải nêu họ tên người lập báo cáo (người tra cứu).
Trong điểm này, “kiểu dáng công nghiệp đối chứng” là kiểu dáng công nghiệp trùng lặp hoặc kiểu dáng công nghiệp tương tự với kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn, được so sánh với kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn khi đánh giá tính mới và tính sáng tạo.


Kiểu dáng công nghiệp phải có tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp, tính sáng tạo được quy định như sau:Để đánh giá tính sáng tạo của kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn, phải tiến hành so sánh tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơ bản của kiểu dáng công nghiệp đó với tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơ bản của từng kiểu dáng công nghiệp đối chứng trùng lặp hoặc tương tự tìm được trong quá trình tra cứu thông tin.
b) Kết luận về tính sáng tạo của kiểu dáng công nghiệp
Trong các trường hợp sau đây, kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn được coi là không có tính sáng tạo:
(i) Kiểu dáng công nghiệp là sự kết hợp đơn thuần của các đặc điểm tạo dáng đã biết (các đặc điểm tạo dáng đã được bộc lộ công khai được sắp đặt hoặc lắp ghép với nhau một cách đơn thuần như thay thế, thay đổi vị trí, tăng giảm số lượng...);
(ii) Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng sao chép/mô phỏng một phần hoặc toàn bộ hình dáng tự nhiên vốn có của cây cối, hoa quả, các loài động vật..., hình dáng của các hình hình học (hình tròn, hình elíp, hình tam giác, hình vuông, chữ nhật, hình đa giác đều, các hình lăng trụ có mặt cắt là các hình kể trên...) đã được biết rộng rãi;
(iii) Kiểu dáng công nghiệp là sự sao chép đơn thuần hình dáng các sản phẩm, công trình đã nổi tiếng hoặc được biết đến một cách rộng rãi ở Việt Nam hoặc trên thế giới;
(iv) Kiểu dáng công nghiệp mô phỏng kiểu dáng công nghiệp thuộc lĩnh vực khác, nếu sự mô phỏng đó đã được biết đến rộng rãi trên thực tế (ví dụ: đồ chơi mô phỏng ô tô, xe máy...).
Nếu không thuộc các trường hợp nói trên, kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính sáng tạo.
35.9 Kiểm tra nguyên tắc nộp đơn đầu tiên theo quy định tại Điều 90 của Luật Sở hữu trí tuệ
a) Để kiểm tra nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, phải tiến hành tra cứu thông tin trong nguồn bắt buộc quy định tại điểm 35.4.b (iv) của Thông tư này.
b) Kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn được coi là đáp ứng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên nếu không tìm thấy kiểu dáng công nghiệp trùng lặp hoặc không khác biệt đáng kể nêu trong những đơn đã đáp ứng các điều kiện để được cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp tìm được trong quá trình tra cứu thông tin.
c) Kiểu dáng công nghiệp của bộ phận sản phẩm nêu trong đơn cũng được coi là đáp ứng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên nếu không tìm thấy kiểu dáng công nghiệp trùng lặp hoặc không khác biệt đáng kể của bộ phận sản phẩm và/hoặc sản phẩm nêu trong những đơn đã đáp ứng các điều kiện để được cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp tìm được trong quá trình tra cứu thông tin.
d) Trong trường hợp có nhiều đơn khác nhau đăng ký kiểu dáng công nghiệp trùng nhau hoặc không khác biệt đáng kể với nhau, cùng đáp ứng các điều kiện để được cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn vẫn được coi là đáp ứng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên quy định tại khoản 2 Điều 90 của Luật Sở hữu trí tuệ nếu tất cả những người nộp đơn đạt được thoả thuận về việc đứng tên người nộp đơn trong một đơn duy nhất trong số các đơn đó để được cấp một Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp.


Thông tư 01 quy định về các đánh giá tính mới của kiểu dáng công nghiệp như sau;
a) Cách đánh giá tính mới của kiểu dáng công nghiệp
Để đánh giá tính mới của kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn, phải tiến hành so sánh tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơ bản của kiểu dáng công nghiệp đó với tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơ bản của kiểu dáng công nghiệp trùng lặp/tương tự gần nhất dùng làm kiểu dáng công nghiệp đối chứng tìm được trong quá trình tra cứu thông tin.
b) Kết luận về tính mới của kiểu dáng công nghiệp
Kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn được coi là mới nếu:
(i) Không tìm thấy kiểu dáng công nghiệp đối chứng trong nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc; hoặc
(ii) Mặc dù có tìm thấy kiểu dáng công nghiệp đối chứng trong nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc nhưng kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn có ít nhất một đặc điểm tạo dáng cơ bản không có mặt trong (không thuộc) tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơ bản của kiểu dáng công nghiệp đối chứng, hoặc
(iii) Kiểu dáng công nghiệp đối chứng chính là kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn được công bố/bộc lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 65 của Luật Sở hữu trí tuệ.


Để hiểu rõ về đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp, Thông tư 01 đã quy định cụ thể như sau:a) Đặc điểm tạo dáng của một kiểu dáng công nghiệp là yếu tố thể hiện dưới dạng đường nét, hình khối, màu sắc, tương quan vị trí hoặc tương quan kích thước để khi kết hợp với các đặc điểm (dấu hiệu) khác tạo thành một tập hợp cần và đủ để tạo thành kiểu dáng công nghiệp đó.
b) Các yếu tố sau đây không được coi là đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp:
(i) Hình khối, đường nét được quyết định bởi chính chức năng kỹ thuật của sản phẩm (ví dụ: hình dạng dẹt, phẳng của đĩa ghi dữ liệu được quyết định bởi chuyển động tương đối giữa đĩa và đầu đọc...);
(ii) Yếu tố mà sự có mặt của nó trong tập hợp các dấu hiệu không đủ gây ấn tượng thẩm mỹ (ấn tượng về hình dáng của sản phẩm không thay đổi khi có mặt và khi không có mặt yếu tố đó; ví dụ: sự thay đổi một hình khối, đường nét quen thuộc nhưng sự thay đổi đó không đủ để nhận biết, do đó hình khối, đường nét đã thay đổi vẫn chỉ được nhận biết là hình khối, đường nét cũ);
(iii) Vật liệu dùng để chế tạo sản phẩm;
(iv) Các dấu hiệu được gắn, dán... lên sản phẩm chỉ để thực hiện chức năng thông tin, hướng dẫn về nguồn gốc, đặc điểm, cấu tạo, công dụng, cách sử dụng... sản phẩm đó; ví dụ: các từ ngữ trên nhãn hàng hoá;
(v) Kích cỡ của sản phẩm, trừ trường hợp thay đổi kích cỡ trang trí của mẫu vải và vật liệu tương tự.
c) Đặc điểm tạo dáng cơ bản và đặc điểm tạo dáng không cơ bản
Đặc điểm tạo dáng cơ bản là đặc điểm tạo dáng dễ dàng nhận biết/ghi nhớ, cần và đủ để xác định kiểu dáng công nghiệp và phân biệt kiểu dáng công nghiệp với kiểu dáng công nghiệp khác dùng cho sản phẩm cùng loại.
Đặc điểm tạo dáng không đáp ứng điều kiện trên gọi là “đặc điểm tạo dáng không cơ bản”.


Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.Một trong những yêu cầu khi thẩm định nội dung là kiểu dáng phải có khả năng áp dụng công nghiệp, vậy, đánh gái khả năng này được quy định như thế nào:

a) Kiểu dáng công nghiệp nêu trong đơn được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu căn cứ vào các thông tin về kiểu dáng công nghiệp được trình bày trong đơn, người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng có thể dùng kiểu dáng công nghiệp đó làm mẫu để chế tạo bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp sản phẩm có hình dáng bên ngoài trùng với kiểu dáng công nghiệp đó.
Khái niệm “người có hiểu biết trung bình” về lĩnh vực tương ứng được hiểu theo quy định tương ứng tại điểm 23.6.a của Thông tư này.
b) Trong các trường hợp sau đây, đối tượng nêu trong đơn bị coi là không có khả năng áp dụng công nghiệp:
(i) Đối tượng nêu trong đơn là hình dáng của sản phẩm có trạng thái tồn tại không cố định (các sản phẩm ở thể khí, chất lỏng...);
(ii) Chỉ có thể tạo ra sản phẩm có hình dáng như đối tượng nêu trong đơn nhờ có kỹ năng đặc biệt hoặc không thể lặp đi lặp lại việc chế tạo ra sản phẩm có hình dáng như đối tượng nêu trong đơn;
(iii) Các trường hợp với lý do xác đáng khác.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh, có rất nhiều hàng hóa cùng loại của các cơ sở sản xuất khác nhau được đưa ra thị trường.

Một trong những yếu tố thu hút sự chú ý của khách hàng đó là sản phẩm có hình dáng bên ngoài bắt mắt.


Hình dáng bên ngoài của sản phẩm được gọi là kiểu dáng công nghiệp, kiểu dáng công nghiệp là một trong đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ và được pháp luật bảo hộ.


Luật sư Nguyễn Tiến Hòa, giám đốc S&B Law TP Hồ Chí Minh sẽ đề cập vấn đề bảo hộ kiểu dáng công nghiệp theo pháp luật hiện hành trong chương trình Sở hữu trí tuệ của Đài truyền hình Vĩnh Long, mời quý vị xem nội dung tại đây:
Theo quy định của pháp luật hiện hành, đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá tính mới, tính sáng tạo của kiểu dáng công nghiệp thông qua việc so sánh, đối chiếu kiểu dáng công nghiệp đó với các kiểu dáng công nghiệp đã tồn tại trước đó. Theo đó, đặc điểm tạo dáng công nghiệp là yếu tố thể hiện dưới dạng đường nét, hình khối, màu sắc, tương quan vị trí hoặc tương quan kích thước để khi kết hợp với các đặc điểm (dấu hiệu) khác tạo thành một tập hợp cần và đủ để tạo thành kiểu dáng công nghiệp đó.

Đặc điểm tạo dáng cơ bản là đặc điểm tạo dáng dễ dàng nhận biết/ ghi nhớ, cần và đủ để xác định kiểu dáng công nghiệp và phân biệt kiểu dáng công nghiệp với kiểu dáng công nghiệp khác dùng cho sản phẩm cùng loại.

Đặc điểm tạo dáng không đáp ứng điều kiện trên gọi là đặc điểm tạo dáng không cơ bản

Ngoài ra, theo quy định của Luật SHTT hiện hành, những yếu tố sau đây không được coi là đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp:

1. Hình khối, đường nét được quyết định bởi chính chức năng kỹ thuật của sản phẩm (ví dụ: hình dạng lõm của bát, cốc; hình dạng dẹt phẳng của đĩa ghi dữ liệu….)

2. Yếu tố mà sự có mặt của nó trong tập hợp các dấu hiệu không đủ gây ấn tượng thẩm mỹ (ấn tượng về hình dáng sản phẩm không thay đổi khi có mặt và khi không có mặt yếu tố đó).

3. Vật liệu dùng để chế tạo sản phẩm

4. Các dấu hiệu được gắn, dán….lên sản phẩm chỉ để thực hiện chức năng thông tin, hướng dẫn về nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo, công dụng, cách sử dụng…sản phẩm đó.

5. Kích cỡ của sản phẩm, trừ trường hợp thay đổi kích cỡ trang trí của mẫu vải và vật liệu tương tự.

Như vậy, để đối chiếu, so sánh kiểu dáng công nghiệp xin đăng ký bảo hộ với các kiểu dáng công nghiệp đã tồn tại trước đó, Cục SHTT cần xem xét đâu là các đặc điểm tạo dáng cơ bản và không cơ bản của những kiểu dáng này và so sánh chúng với nhau.


Thủ tục đăng ký kiểu dáng công nghiệp?
Theo luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, để có đủ tư cách cho bảo hộ, một kiểu dáng công nghiệp phải mới lạ, sáng tạo và có tính ứng dụng công nghiệp.

Một kiểu dáng công nghiệp được cho là mới nếu nó khác biệt rõ ràng với các kiểu dáng công nghiệp khác mà đã được công bố rộng rãi bằng cách sử dụng họăc bằng các phương tiện mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào dù ở trong hay ngoài nước Việt Nam trước ngày nộp đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp

Một kiểu dáng công nghiệp được cho là có tính sáng tạo nếu dựa trên kiểu dáng công nghiệp đã được công bố rộng rãi bằng cách sử dụng họăc bằng các phương tiện mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào dù ở trong hay ngoài nước Việt Nam trước ngày nộp đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp, kiểu dáng công nghiệp không thể dễ dàng được tạo ra bởi 1 người với kiến thức trung bình về nghệ thuật.

Một kiểu dáng công nghiệp được cho là dễ ứng dụng công nghiệp nếu nó có thể được sử dụng như là 1 mô hình cho sản xuất hàng loạt các sản phẩm với hình dáng bên ngoài thể hiện rõ được kiểu dáng công nghiệp đó bằng các phương pháp công nghiệp hoặc thủ công .

Những đặc điểm sau làm kiểu dáng công nghiệp không đủ tư cách để bảo hộ:

- Hình dáng bên ngoài của 1 sản phẩm cần có đặc tính kỹ thuật của sản phẩm .

- Hình dáng bên ngoài của các công trình xây dựng công nghiệp.

- Hình dáng sản phẩm vô hình trong quá trình sử dụng sản phẩm .

Nộp đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được thực hiện trực tiếp hoặc thông qua đại diện sở hữu trí tuệ tới NOIP. Nếu người nộp đơn chọn nộp đơn qua đại diện, thì cần phải có các tài liệu gồm:

1. Giấy uỷ quyền của người nộp đơn; không cần công chứng và/hoặc chứng nhận hợp pháp (cần lúc nộp đơn;bản fax cũng được chấp nhận miễn là bản gốc được nộp trong vòng 3 tháng kể từ ngày nộp đơn);

2. Giấy tờ này phải có chữ ký của người nộp đơn nếu là cá nhân hoặc là người đại diện cho người nộp đơn, nếu là tư cách pháp nhân phải có con dấu (nếu có). không cần công chứng và/hoặc chứng nhận hợp pháp.

3. Sáu (6) bộ ảnh chụp hoặc bộ bản vẽ KDCN gồm ảnh chụp hay bản vẽ mặt trước, mặt sau, bên phải, bên trái, phía trên, phía dưới và hình phối cảnh của KDCN. Kích thước ảnh chụp hoặc bản vẽ không lớn hơn 210 x 297 mm, và không nhỏ hơn 90 x 120 mm (yêu cầu nộp đồng thời với đơn);

4. Chú ý nếu một kiểu dáng được áp dụng cho 1 phần của hàng hoá, ảnh chụp / bức vẽ phối cảnh của hàng hoá phải chỉ rõ phần được yêu cầu.

5. Trong trường hợp kiểu dáng có độ phức tạp cao, cần một bản vẽ mặt cắt ngang ở vị trí thích hợp. nếu một hàng hoá mà kiểu dáng được áp dụng như là một cái nắp hoặc có thể mở ra được (ví dụ tủ lạnh, tủ quần áo hoặc vali), cần bản vẽ / ảnh chụp hàng hoá ở vị trí mở.

6. Bản sao chứng nhận đơn đầu tiên và bản dịch tiếng Anh, nếu Công ước Pari yêu cầu (tài liệu này có thể nộp trong vòng 3 tháng kể từ ngày nộp đơn).

7. Hợp đồng chuyển nhượng Quyền ưu tiên (áp dụng trong trường hợp Người nộp đơn không đồng thời là người đã nộp đơn ưu tiên. Tài liệu này có thể được nộp trong vòng 3 tháng kể từ ngày nộp đơn);

8. Tài liệu này được các bên ký và đóng dấu (nếu có). không cần công chứng và/ hoặc chứng nhận hợp pháp.

9. Bản sao mô tả kiểu dáng công nghiệp chỉ rõ tính mới lạ và là một tác phẩm nghệ thuật đầu tiên (cần lúc nộp đơn);

Lưu ý: hợp đồng chuyển nhượng quyền ưu tiên từ người thiết kế cho người đăng ký (người thiết kế và người đăng ký khác nhau ), theo luật kiểu dáng hiện hành không bắt buộc tại thời điểm nộp đơn. Tuy nhiên Cục sở hữu trí tuệ Việt (NOIP) bảo lưu quyền yêu cầu người nộp đơn nộp tài liệu này trong trường hợp NOIP có cơ sở hợp lý để nghi ngờ tính hợp pháp của người đăng

Thông tin

1. Họ tên, địa chỉ và quốc tịch của người nộp đơn và người thiết kế ;

2. Ngày nộp đơn, số đăng ký và quốc gia của đơn đăng ký trước mà quyền ưu tiên Công ước Pari yêu cầu

Theo luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, để có đủ tư cách cho bảo hộ, một kiểu dáng công nghiệp phải mới lạ, sáng tạo và có tính ứng dụng công nghiệp.
  • Một kiểu dáng công nghiệp được cho là mới nếu nó khác biệt rõ ràng với các kiểu dáng công nghiệp khác mà đã được công bố rộng rãi bằng cách sử dụng họăc bằng các phương tiện mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào dù ở trong hay ngoài nước Việt Nam trước ngày nộp đơn  đăng ký kiểu dáng công nghiệp
  • Một kiểu dáng công nghiệp được cho là có tính sáng tạo nếu dựa trên kiểu dáng công nghiệp đã được công bố rộng rãi bằng cách sử dụng họăc bằng các phương tiện mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào dù ở trong hay ngoài nước Việt Nam trước ngày nộp đơn  đăng ký kiểu dáng công nghiệp, kiểu dáng công nghiệp không thể dễ dàng được tạo ra bởi 1 người với kiến thức trung bình về nghệ thuật.
  • Một kiểu dáng công nghiệp được cho là dễ ứng dụng công nghiệp nếu nó có thể được sử dụng như là 1 mô hình cho sản xuất hàng loạt các sản phẩm với hình dáng bên ngoài  thể hiện rõ được kiểu dáng công nghiệp đó bằng các phương pháp công nghiệp hoặc thủ công  .
Những đặc điểm sau làm kiểu dáng công nghiệp  không đủ tư cách để bảo hộ:
  • Hình dáng bên ngoài của 1 sản phẩm cần  có đặc tính kỹ thuật của sản phẩm .
  • Hình dáng bên ngoài của các công trình xây dựng công nghiệp.
  • Hình dáng sản phẩm vô hình trong quá trình sử dụng sản phẩm .      
Nộp đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được thực hiện trực tiếp hoặc thông qua đại diện sở hữu trí tuệ tới NOIP. Nếu người nộp đơn chọn nộp đơn qua đại diện, thì cần PoA. Các tài liệu yêu cầu gồm:
  1. Giấy uỷ quyền của người nộp đơn; không cần công chứng và/hoặc chứng nhận hợp pháp  (cần lúc nộp đơn;bản fax cũng được chấp nhận miễn là bản gốc được nộp trong vòng 3 tháng kể từ ngày nộp đơn); 
    • Giấy tờ này phải có chữ ký của người nộp đơn nếu là cá nhân hoặc là người đại diện cho người nộp đơn, nếu là tư cách pháp nhân phải có con dấu (nếu có). không cần công chứng và/hoặc chứng nhận hợp pháp.
  2. Sáu (6) bộ ảnh chụp hoặc bộ bản vẽ KDCN gồm ảnh chụp hay bản vẽ mặt trước, mặt sau, bên phải, bên trái, phía trên, phía dưới và hình phối cảnh của KDCN. Kích thước ảnh chụp hoặc bản vẽ không lớn hơn 210 x 297 mm, và không nhỏ hơn 90 x 120 mm (yêu cầu nộp đồng thời với đơn);
    • Chú ý nếu một kiểu dáng được áp dụng cho 1 phần của hàng hoá, ảnhchụp/bức vẽ phối cảnh  của hàng hoá phải chỉ rõ phần được yêu cầu.
    • Trong trường hợp kiểu dáng có độ phức tạp cao, cần một bản vẽ mặt cắt ngang ở vị trí thích hợp . nếu một hàng hoá mà kiểu dáng được áp dụng như là  một cái nắp hoặc có thể mở ra được (ví dụ tủ lạnh, tủ quần áo hoặc vali), cần bản vẽ/ảnh chụp hàng hoá ở vị trí mở.
  3. Bản sao chứng nhận đơn đầu tiên và bản dịch tiếng Anh, nếu Công ước Pari yêu cầu  (tài liệu này có thể nộp trong vòng 3 tháng kể từ ngày nộp đơn).
  4. Hợp đồng chuyển nhượng Quyền ưu tiên (áp dụng trong trường hợp Người nộp đơn không đồng thời là người đã nộp đơn ưu tiên. Tài liệu này có thể được nộp trong vòng 3 tháng kể từ ngày nộp đơn);
    • Tài liệu này được các bên ký và đóng dấu  (nếu có). không cần công chứng và/hoặc chứng nhận hợp pháp.
  5. Bản sao mô tả kiểu dáng công nghiệp chỉ rõ tính mới lạ và là một tác phẩm nghệ thuật đầu tiên (cần lúc nộp đơn);
Lưu ý: hợp đồng chuyển nhượng quyền ưu tiên từ người thiết kế cho người đăng ký (người thiết kế và người  đăng ký khác nhau ),theo luật kiểu dáng hiện hành không bắt buộc tại thời điểm nộp đơn. Tuy nhiên Cục sở hữu trí tuệ Việt (NOIP) bảo lưu quyền yêu cầu người nộp đơn nộp tài liệu này trong trường hợp  NOIP có cơ sở hợp lý để nghi ngờ tính hợp pháp của người đăng
Thông tin
  1.  Họ tên, địa chỉ và quốc tịch của người nộp đơn và người thiết kế ;
  2.  Ngày nộp đơn, số đăng ký và quốc gia của đơn đăng ký trước mà quyền ưu tiên Công ước Pari yêu cầu


Nếu sách là bạn, thì sách cũ ắt phải là bạn cũ, và niềm vui khi gặp lại những quyển sách thân quen của của một thời xa xôi nào đó chính là niềm vui "ngộ cố tri". Đây là chân dung vài người bạn cũ của tôi, mới gặp lại.
Phía núi bên kia, là cuốn sách tôi nhắc tới trong bài tạp bút về tiểu thuyết bốc mùi nhất mọi thời đại. Chuyện kể về mấy cậu bé lớn lên trong một làng quê rất nghèo, rồi trở thành
Bùi Như Hương

Cách đây vài năm, trong một nỗi buồn về sự thương mại hóa nhanh chóng của nghệ thuật, tôi đã viết bài Vài suy nghĩ về tranh “gallery”. Chữ “gallery” được cho vào trong ngoặc kép hàm ý chỉ các loại tranh sản xuất vội, tranh sao chép, tranh giả, tranh nhái, tranh làm hàng để bày bán, tranh mỹ nghệ, tranh souvenir...
Nói tóm lại, đó là các loại tranh được vẽ ra một cách hời hợt, vu vơ, chiết trung nhàm chán, tình cảm không thật, không mảy may vì mục đích nghệ thuật mà vì thương mại là chính. Đằng sau các bức tranh “gallery” hay còn gọi là tranh “chợ” ấy là nhu cầu kiếm sống của rất nhiều người, là sự thỏa hiệp giữa họa sĩ và gallery, là sự toan tính vụ lợi của cả đôi bên, là cái chết khô héo dần mòn của những bản năng vẽ. (Bàn tay vô hình, tàn bạo của nền kinh tế thị trường đã từng bước sát phạt một cách không thương tiếc những thảo mộc dễ dãi, những thân cây yếu mềm tầm gửi trên lối đi của nó).
Cho đến nay, khi suy nghĩ lại về hiện trạng gallery và tranh “gallery”, tôi thấy mọi bức xúc trong lòng gần như tan biến. Nỗi buồn chẳng còn mấy ý nghĩa. Những đòi hỏi trước đây của tôi cũng như của nhiều bạn bè trong giới mỹ thuật về chất lượng của gallery quả là có phần xa xỉ, ảo tưởng so với thực tại của đất nước.

Gallery là một bộ phận của thị trường. Thị trường là một bộ phận của xã hội. Xã hội là do cộng đồng những con người tạo nên. Trình độ con người thế nào- xã hội thế vậy. Xã hội Việt Nam phản ánh đúng trình độ của người Việt Nam, và trình độ ấy thực tình vẫn còn thấp. Trình độ này thể hiện gần như đồng bộ ở mọi nơi mọi chốn, mọi góc độ sinh hoạt của đời sống con người, từ nhà ra đến chợ, đến phố, từ trường học đến công sở, trong mọi ngành nghề, từ vi mô đến vĩ mô, từ khoa học đến nghệ thuật, từ hạ tầng cơ sở cho đến thượng tầng kiến trúc...

Trình độ của con người qui định tất cả. Và người ta thường nói tới cái gốc của nó là giáo dục, là vấn đề “trồng người”. Giáo dục đào tạo của ta hiện nay như thế nào thì cả nước đã biết. Cách giáo dục này lâu nay chỉ tạo ra cho đất nước một tầng lớp trí thức bình dân (chữ của GS. Hoàng Ngọc Hiến), đa phần là như vậy, trí thức ảo, tự huyễn, làm công ăn lương, thích hưởng thụ dễ dãi, kém chí khí, nhu nhược, hài lòng với kiến thức báo chí, không cần đến tư duy, tư tưởng, hay triết học cao siêu, phức tạp. Tầng lớp trí thức thật, theo đúng nghĩa, thì vẫn có, nhưng quá mỏng, do niềm vui tự học, tự tu dưỡng mà thành.

Trong lĩnh vực nghệ thuật không khác gì. Tài năng thật rất hiếm hoi. Nhà trường lâu nay chỉ đào tạo ra phần lớn các họa sĩ- thợ vẽ, có nghề vẽ, có vẻ trường qui thật đấy, song thực ra mang nhiều tính bình dân. Có thể gọi là một kiểu họa sĩ dân gian đời mới. Chữ dân gian ở đây hàm ý dễ dãi, tùy tiện, đơn giản, ít suy nghĩ, tư duy và học vấn ở trình độ trí thức bình dân như nêu trên. Nói như vậy có thể làm mếch lòng nhiều người. Song rõ ràng sinh viên mỹ thuật, nếu không biết tự học, thì chẳng thể tiến đi đâu xa ngoài kiến thức phổ thông lớp 12 sẵn có của họ. Trường mỹ thuật với chương trình giảng dạy, đào tạo như hiện nay, có thể nói là còn rất yếu và bảo thủ, không thể giúp gì họ nhiều ngoài một số kỹ thuật vẽ vời. (Vấn đề này ở nước ngoài hoàn toàn khác, các trường mỹ thuật phải nằm ngay trong trường tổng hợp (university), thuộc về trường tổng hợp, mặt bằng kiến thức là ngang nhau. Sinh viên mỹ thuật khác sinh viên thường ở chỗ có thêm năng khiếu, cá tính và thiên hướng sáng tạo). Tuy nhiên, cũng phải nhấn mạnh rằng, không nhà trường nào có nhiệm vụ đào tạo ra nhân tài. Nghệ sĩ trước hết là nghiệp trời cho, tài năng phải tự vun trồng, danh hiệu nghệ sĩ phải tự xây đắp bằng lao động nghệ thuật. Trường học chỉ là môi trường cần thiết, hữu ích để họ tích lũy học hỏi thêm kiến thức, kinh nghiệm. Ai cũng biết vậy. Thế nhưng ở Việt Nam thì có khác, sinh viên mỹ thuật sau 5 năm học, chủ yếu học vẽ, chỉ chú trọng môn vẽ, gần như buông xuôi mọi kiến thức văn hóa khác, tất cả nghiễm nhiên đều trở thành “họa sĩ”, tự coi mình là họa sĩ. Cho nên họa sĩ ở Việt Nam mới nhiều và nhiều vô kể, và bình dân đến vậy.

Cũng tương tự, không nhà trường nào có thể đào tạo nên nhà phê bình nghệ thuật. Phê bình nghệ thuật là nghiệp khó trời cho. Một nghiệp đòi hỏi trước hết một thiên hướng bản năng rõ ràng, bao gồm tình yêu cộng với sự nhạy cảm nghệ thuật đặc biệt, sau đó là nền tảng học vấn rộng rãi, sâu sắc, với kiến thức văn hóa đa liên ngành hỗ trợ, nhất là các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn, và cuối cùng không kém phần quan trọng là vốn sống, là kinh nghiệm thẩm mỹ cá nhân, là nhân cách của chính người làm phê bình. Một lối sống thô bạo không thể đẻ ra một cái nhìn tinh tế. Một tư duy đơn giản, tẻ nhạt không thể vươn tới sự bay bổng của sáng tạo. Một đầu óc sơ cứng, bảo thủ không thể biết chấp nhận cái mới, cái khác. Một nhân cách hẹp hòi, tầm thường không thể biết mở lòng để chia sẻ cảm thông, chứ chưa nói đến xúc động, đau buồn trước nỗi đau nhân tình thế thái. Kiểu người như vậy làm sao có thể hiểu được nghệ sĩ và nghệ thuật, có thể nhận ra cái đẹp và nỗi buồn của cộng đồng, dân tộc và nhân loại. Đa số các nhà phê bình mỹ thuật hiện nay ở Việt Nam vào nghề một cách tình cờ, nhầm chỗ, có khi là miễn cưỡng. Vấn đề đào tạo lý luận- phê bình mỹ thuật cũng gặp phải những khó khăn, sai lầm cơ bản tương tự như vấn đề đào tạo họa sĩ, từ đầu vào cho đến đầu ra. Đầu vào đã lệch lạc, sai thiên hướng mục đích thì đầu ra lại càng bi thảm. Do vậy, ngành lý luận phê bình mỹ thuật có nguy cơ biến mất. Thế hệ cũ trở nên già nua, bảo thủ. Thế hệ mới không thấy có triển vọng, hứa hẹn gì. Phê bình nghệ thuật hiện nay tồn tại chủ yếu theo lối dân gian, hóng hớt, “ăn theo nói leo”, thiếu chính kiến, thiếu sự phát hiện, khai sáng. Hoặc phê bình theo lối khua chiêng gõ mõ, quảng cáo, đưa tin. Hoặc vừa đi đường vừa kể chuyện cho dông dài, những câu chuyện phiếm rẻ tiền, ba đồng một đôi, vô thưởng vô phạt. Hoặc phê bình làm văn, phủ đầy mỹ từ, uyển ngữ. Hoặc phê bình khuyến mại, khen là chính, chê là không có. Hoặc “cao thủ” hơn thì tung hỏa mù về ngôn ngữ, ngụy tạo lý luận. Công chúng quả thật không biết đâu mà lần. Với các “kỹ xảo” hành nghề kiểu ấy thì đôi khi các nhà báo bình dân đã đi trước, làm nhanh và thành thạo hơn cả giới phê bình. Trên thực tế, một số nhà báo đã vào cuộc và lấn sân phê bình mỹ thuật đúng như vậy.

Hoạt động phê bình ngày càng trở nên lạc lõng, xa rời với sáng tác, không còn tác dụng, không còn mấy ý nghĩa, ngoài chức năng đưa tin, quảng cáo vặt. Nhiều họa sĩ cũng chẳng cần tới nó nữa vì thấy phê bình hay nói năng luyên thuyên, khó hiểu, chẳng trúng trật gì cả, họ bảo “dây vào chỉ thêm rách việc”. Số đông các họa sĩ – thợ vẽ bình dân đang làm ăn thì cũng chỉ cần tới một thứ phê bình vuốt ve, lăng xê và quảng cáo giúp họ. Phê bình nghiêm túc quả là khó, và nếu có cũng thật khó sống, hoặc nghịch nhĩ, ít được ưa chuộng, hoặc dễ dàng chìm nghỉm trong một xã hội phì đại thông tin, lũng đoạn thông tin, nhiễu loạn thật giả, không có thước đo để phân biệt giá trị. Thế nên đã có người nói rằng phê bình mỹ thuật ở Việt Nam là thừa, là vô ích, hoàn toàn chẳng có gì sai.

Trong hoàn cảnh đất nước nghèo nàn, chậm phát triển, trình độ chung của xã hội còn thấp, trí thức phần lớn là bình dân, họa sĩ phần lớn cũng là bình dân, xa vời với những tư tưởng, tình cảm, mục đích lớn lao, triết lý cao siêu, mưu cầu kiếm sống- hưởng thụ- làm giàu lại đang là số một, cộng với một tình trạng phê bình mỹ thuật yếu kém, đầy tính nghiệp dư dân gian, mê sảng về lý luận, làm sao ta có quyền đòi hỏi các gallery phải sang trọng, hoạt động đúng cách, chuyên nghiệp, các chủ gallery phải là người sáng suốt, có trình độ thẩm mỹ cao, tinh tế, biết chọn tranh?

Nếu nhắm mắt lại và tưởng tượng gallery cũng giống như một cửa hàng mỹ nghệ, kim hoàn hay lụa tơ tằm gì đó thời mở cửa, và tranh cũng như một trong vô số các mặt hàng tiêu dùng văn hóa đại chúng trong cơ chế thị trường, thì ta sẽ thấy ngay chẳng có gì đáng ngạc nhiên nữa. Sự có mặt của các gallery ngày nay đã là một bước tiến đáng kể so với trước đây, giúp cho một số người vẽ có điều kiện hành nghề kiếm sống và giúp cho người dân được tiếp cận làm quen hơn với cái gọi là nghệ thuật hay trang trí mỹ nghệ gì đó, tuỳ ý, mà trước đây họ ít được biết đến. Có cầu thì ắt có cung. Người mua ngày nay cũng bình dân, dễ tính. Ta hay Tây cũng vậy. Nhiều khi người ta chỉ cần đến một bảng màu trang trí tươi mát, một ít tính kỳ lạ dân tộc, một chút thô mộc dân gian, một chút ngây thơ bản năng, quan trọng là được thực hiện bằng đôi bàn tay thủ công, thế là đủ để an ủi con mắt và giải tỏa tâm hồn trong đời sống công nghiệp vội vã, buồn tẻ mất dần thiên nhiên và bản năng, phai nhạt tình người. Đây chính là điểm gặp nhau giữa bên cầu- chủ yếu là người nước ngoài có tiền và bên cung là thị trường nghệ thuật Việt Nam. Cho đến nay, các gallery (tôi không dám nói là tất cả) vẫn làm ăn được nên họ mới tồn tại. Các họa sĩ Việt Nam vẫn xuất hiện hết thế hệ này sang thế hệ khác. Sự khéo tay vốn là sở trường của họ, và năng khiếu hội họa cũng không thiếu. Chỉ có điều tài năng ấy luôn chỉ ở mức bình dân vì thiếu các tố chất cơ bản để trở thành nghệ sĩ lớn như tư duy, tư tưởng, học vấn, trí tuệ, ý chí, bản lĩnh nghề nghiệp, sự tự tu dưỡng.... Bản năng thì rất nhanh chóng bị mài mòn bởi hoàn cảnh kiếm sống, bởi ham muốn thực dụng, thiển cận. Thực tế cho thấy các họa sĩ Việt Nam rất ít người có khả năng phát triển hội họa được xa, dài thì 10- 15 năm, ngắn thì 5- 10 năm. Có người chỉ sau 2- 3 năm đã gục hẳn, hoặc lặp lại mình một cách mệt mỏi, tuyệt vọng. Chưa nói đến sự tự nguyện lặp lại mình, lặp lại những bức tranh dễ bán. 
Trong gallery thường lẫn lộn nhiều loại tranh. Tệ nạn nhất vẫn là chuyện làm tranh giả, tranh nhái. Suy cho cùng thì vẫn do trình độ xã hội thấp, luật pháp hổng, giáo dục yếu, ý thức con người kém. Gallery không phải là nơi duy nhất hứng chịu mọi tội lỗi, mà kẻ bán linh hồn cho quỉ dữ chính là các thợ vẽ giấu mặt. Đến một lúc nào đó, đồng bộ với sự phát triển của dân trí, với những tiến bộ văn minh xã hội, với nhu cầu thưởng thức nghệ thuật đích thực, hoạt động của gallery chắc chắn sẽ được nâng cao, chuyên nghiệp hóa và đem lại hữu ích nhiều hơn cho con người và xã hội. Song, để đạt được điều này không dễ ngày một ngày hai.

Tuy nhiên, tôi vẫn tin rằng một bức tranh đẹp sẽ tự tỏ sáng, một tài năng đích thực sẽ tự vươn mình lên cao để tìm đến khoảng trời bao la của tự do sáng tạo./.
------------
MTHP sưu tầm trên Internet

Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2013

Tôi muốn mở một cơ sở sản xuất rượu theo phương pháp cổ truyển ở làng huyện Hoài Đức, Hà Nội. Để nhấn mạnh nguồn gốc của rượu tôi đặt tên rượu của tôi là “Rượu A”. Tôi có thể đăng ký độc quyền thương hiệu này không?
Ảnh minh họa (Internet)
Ảnh minh họa (Internet)
Trả lời:
Theo khoản 16 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12 (sau đây gọi tắt là luật SHTT) thì tên gọi của sản phẩm chính là một dạng nhãn hiệu của sản phẩm.
Khoản 16 Luật SHTT
“16. Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.”


Vì vậy khi bạn muốn đăng ký độc quyền tên gọi này thì cần tuân thủ quy định của pháp luật về đăng ký nhãn hiệu.
Một nhãn hiệu chỉ được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện được quy định tại Điều 72 Luật SHTT.
Điều 72 Luật SHTT:
“Điều 72. Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ
Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;
2. Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác.”
Khả năng phân biệt của nhãn hiệu được quy định tại Điều 74 Luật SHTT. Căn cứ vào Điều này thì nhãn hiệu của bạn sẽ không được bảo hộ do không có khả năng phân biệt vì nó đã chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá (tiết đ Khoản 2 Điều 74 Luật SHTT).
Điều 74 Luật SHTT:
“Điều 74. Khả năng phân biệt của nhãn hiệu
1. Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu;
b) Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến;
c) Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu;
d) Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh;
đ) Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định tại Luật này;
e) Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
g) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên;
h) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm, trừ trường hợp hiệu lực bị chấm dứt vì lý do nhãn hiệu không được sử dụng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 của Luật này;
i) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;
k) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;
l) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của hàng hoá;
m) Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh nếu dấu hiệu được đăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;
n) Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu”.