Được tạo bởi Blogger.

Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012



Đến giờ này thì Thị trấn
Tortilla Flat đã đến tay người đọc (tất nhiên, nếu và chỉ nếu người đọc đã
mua, hay bằng cách khác có được, cuốn sách).  Đây là cuốn sách thứ hai, hoặc có thể là thứ
ba:), mà tôi tham gia làm
trong năm. Một số bạn thắc mắc làm thế nào tôi có thể dịch được hai (hoặc ba)
cuốn trong một năm. Thật ra, Em làm ơn
làm ơn im đi, được không? dịch xong năm kia, còn Thị trấn


Đã sang tháng mười hai mà Sài Gòn hãy còn rất nóng. Đầu giờ
sáng, còn có tí hơi mát, nhưng sang quãng mười một giờ trưa thì nắng gắt gao,
không khác những ngày hè là mấy. Thời tiết như thế, chẳng biết có thể gọi là
mùa Giáng sinh đã đến hay chưa. Dù sao, cứ đến này giờ trong năm, trong người vẫn
không khỏi chút nôn nao. Có lẽ, tháng cuối cùng của năm, đi đâu, làm gì vẫn
không tránh khỏi cái cảm

Thứ Tư, 28 tháng 11, 2012

Đến Penang lần thứ hai trong vòng hai tháng, thật tình thì chẳng vui sướng gì. Taxi, sân bay, taxi, khách sạn, hội họp, chỉ ngần ấy thứ. Thỉnh thoảng, còn được ăn cả cơm bình dân. Cơm bình dân (hawker food) ở Penang quả có ngon, nhưng hơi mặn. Ăn xong được quyền uống nước thoải mái.

Hai tối liên tiếp, tôi chọn một quán cà phê bia (tên trên bảng hiệu là Beer Coffee), ăn tối thật hoành tráng, để

Thứ Hai, 26 tháng 11, 2012






Những lời mạ lị

Hai cô điếm chết

Thức dậy nhức đầu

:)

Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2012



Thứ Năm, 22 tháng 11, 2012

Đặng Trường Lưu

Không phải là một triển lãm mà những tác phẩm mỹ thuật được bày đều vẽ về biển, thậm chí, rất ít tác phẩm  về đề tài này. Trong 31 tác giả của cuộc hội ngộ “Hôm nay và mãi mãi” khai mạc ngày 17/11/2012 tại Hải Phòng, có đến một nửa hiện sống và làm việc ở những vùng đất khác, vậy mà người xem vẫn có thể nhận ra ít nhiều chút đặc trưng vùng biển, nhận ra đâu đây chút nắng gió mặn mòi…

Tranh sơn mài của họa sĩ Sơn Trúc

Đất Cảng, con người, tâm tư và ý chí Hải Phòng hằn vào tác phẩm qua những hòa sắc, khối hình rạch ròi và quyết liệt. Tố chất văn hóa thành phố Cảng không chỉ hiển hiện trong sáng tác của những họa sĩ có tuổi đời, tuổi nghề già dặn; dường như còn đậm đà hơn thế, ám ảnh hơn thế từ đóng góp của các họa sĩ trẻ, trên con đường vật vã tìm một lối vẽ của riêng mình.

Tranh sơn dầu của họa sĩ Vũ Nghị

Tôi từng được xem tranh của các họa sĩ Hải Phòng từ nhiều năm của thế kỷ trước, khi bày ở Hải Phòng, khi đem lên triển lãm ở Hà Nội. Những phòng tranh ngày ấy đã cho tôi cảm nhận về một Hải Phòng riêng biệt, không dễ lẫn vào mỹ thuật của những vùng đất khác. Ngày ấy, cho dù có le lói một vài họa sĩ nổi trội, vẫn không đủ xoá đi ý nghĩ về một mỹ thuật Hải Phòng quá ư bình lặng, buồn tẻ và luôn tự bằng lòng. Nhưng những triển lãm sang đầu thế kỷ XXI đã cho người xem thật sự hào hứng và tin cậy về sự khởisắc lạ thường. Trong “Hôm nay và mãi mãi”, ta nhận ra điều đó ở ngay những tác phẩm cuối cùng của các họa sĩ quá cố, Thọ Vân với “Mùa xuân”, Mạnh Cường với “Chân dung Minh Thu”, Nguyễn Mạnh với “ Chân dung nhà văn Kim Lân”, hay Nguyễn Quang Ngọc với “Bến cá”. Giá Nguyễn Quang Ngọc đừng vội vã ra đi, tôi tin anh có thể còn nhiều đóng bởi một lối vẽ đã định hình.

Tranh sơn mài của họa sĩ Đinh Quân

Họa sĩ Nguyễn Hà, người cao niên nhất tại triển lãm, vẫn còn nguyên cái nhìn tươi rói và đầy thức cảm trong cách thể hiện sơn mài truyền thống. Với “Mùa hè”, hay “Chén rượu xuân”, các nhân vật của ông thật lộng lẫy, vừa gợi chất kinh điển, vừa đưa ta nghĩ về hiện đại. Nhà điêu khắc Phạm Ngọc Lâm hướng tư duy của mình vào những vật dụng thường ngày, sắp xếp lại, sáng tạo thành tác phẩm vừa hóm hỉnh lại vừa biểu cảm. Họa sĩ Nguyễn Trịnh Thái bỏ qua những lề thói ngặt nghèo của bố cục khi đề cao những không gian náo nhiệt. Quốc Thái bập bùng màu sắc. Lê Đại Chúc gửi lòng vào những khuôn hình giản lược cùng bảng màu gần với nguyên sơ. Sơn mài của Sơn Trúc có hệ thống hình hồn nhiên và gam màu bồi hồi, dịu nhẹ. Phạm Đức Quang, Nguyễn Thế Cường, Bùi Duy Khánh, Nguyễn Đình Hợp, Bùi Trọng Dư, Nguyễn Quốc Thắng, Phạm Minh Đức, Nguyễn Ngọc Dân, Nguyễn Việt Anh, Vũ Nghị… mỗi người theo cách riêng của mình, phổ vào hiện thực những nghĩ suy sâu sắc. 

Tượng gốm của nhà điêu khắc Bùi Viết Đoàn

Dường như hiện thực chỉ là cái cớ bâng quơ, ngẫu nhiên, cực kỳ mỏng mảnh đưa ta vào những nỗi niềm thế sự. Trong khi Đào Song Thắng vắt hình đến cùng kiệt ở những phù điêu gò đồng thì Bùi Viết Đoàn lại quy vật thể vào những ý niệm riêng. Trong khi Phạm Hồng Hà cho nhân vật cuộn lẫn vào hoà sắc thì Nguyễn Trung Dũng tìm ý tưởng qua ngẫu hứng của hình. Khi Vũ Thăng dát vào sơn mài những hình hài đầy tính ấn tượng thì Đinh Quân, Trần Quang Huân, Trần Tuấn, Trần Vinh và Đặng Tiến làm loé lên giá trị nhân văn từ những nguồn cơn đời thực.

Tranh sơn mài của họa sĩ Nguyễn Hà

Không thể nói nhiều hơn, cho dù còn quá nhiều điều để nói về tác phẩm và tác giả hội tụ ở triển lãm “Hôm nay và mãi mãi”. Chỉ biết rằng, các hoạ sĩ Hải Phòng đã thành công khi dội vào lòng người xem nhiều cảm xúc. Họ đã thành công khi những tác phẩm đang làm nên bao đợt sóng biển, lúc hiền hoà, khi dữ dội, bền bỉ và tự tin, đánh thức gợi lên hy vọng về một vùng mỹ thuật Hải Phòng.
-------------
Theo "Lao động cuối tuần" 16/11/2012
Ảnh và chú thích của MTHP

Thứ Tư, 21 tháng 11, 2012

"Fat" ("Béo") là truyện đầu tiên trong tập Em làm ơn im đi, được không? Nhiều người không thích truyện này lắm. Bản thân tôi cũng không thích truyện này bằng những truyện khác trong tập, ví dụ, "Có phải anh là bác sĩ?", "Họ đâu phải chồng em", hay "Còn cái này thì sao?" Tuy nhiên, Anne Enright, tác giả của Họp mặt, lại rất thích truyện này. Bà nói về truyện này như sau:



“Béo” là một ví dụ

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012




Cuốn Thị trấn Tortilla Flat của John Steinbeck vừa mới ra mắt trong bộ ba cuốn  mới nhất của tủ sách Cánh cửa mở rộng có hai lời giới thiệu, một của Thomas Fensch và một của Phan Việt. Sau đây là lời giới thiệu của Phan Việt.





Thị
trấn Tortilla Flat



John Steinbeck từng
nói "Không ai thực sự biết về người khác. Điều tốt nhất mà một người có thể
làm là mặc định rằng những người khác cũng

Thứ Bảy, 17 tháng 11, 2012

Đã ra sạp rồi các bạn ạ. Nếu các bạn đến Hội sách của NXB Trẻ mua thì sẽ được giảm giá 20%. Còn chần chờ gì nữa!:)





Tin, ảnh: thangmdk

Lần đầu tiên tại Hải Phòng
Triển lãm Mỹ thuật: HÔM NAY VÀ MÃI MÃI
Sự trở về của các họa sĩ người Hải Phòng sống xa quê cùng sự góp sức hỗ trợ của các họa sĩ bản xứ
Khai mạc triển lãm vào 16h ngày 17/11/2012 tại nhà triển lãm số 1 Nguyễn Đức Cảnh, Q. Lê Chân













Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2012


The French cultural center (L'espace) was packed that night. Old and young, local and expats, frantic believers and purely curious outstander alike filled the hall to its fullest capacity. Some contemporary artists would be jealous with the flow of audiences. Even after the show had begun, more people continued to rush in past the door and ended up standing in a cluster by one end of the room or spreading themselves along the wall. Yet it was not a pop, rock, jazz, or electronic music show. It was not even pure music to begin with. On stage there was a meticulous reproduction of a temple. Candle light flickered as if the wind blew through, incense's fragrance lingered about all corners. One session of medium worship was about to begin, but this time it was on stage, and everything was prepared for the gaze of an audience from all different background, but mostly educated  middle class. The medium, a short hair woman in her late 40s, has probably never before in her life performed in front of hundreds of people. She started swaying as the music began, shaking her body vigorously to signify that the spirit of a deity she summoned was entering her. But this time, I wonder how much of that was real manifestation of communicative channel between the two worlds, and how much is a recited move of the same performance she has given many times in her profession as an agent of the religious realm.

"Chầu văn" is a style of singing and dancing accompanying mediumship, in which a medium would dance along the music according to whichever deity s/he is possessed with at that moment. She or he imitates behaviours of heros, state officials, young girls or a benevolent Mother Goddess. This is a highly staged form of worshiping, in which both the medium (i.e. main actor/actress) and the believers (i.e. audience) know their roles and act accordingly. For example, when the deity is a young girl who loves teasing people and being praised for her beauty, the medium walks joyful steps, fixs hair in the mirro, and believers sitting around must chirp up compliments on her beauty sincerely, for when she is flattered and pleased, she will reward people with lots of blessings, or even wealth. The medium holds in her/his hands few bunches of small changes, and throw that out for everyone to catch.

In the old days, this indigenous form of religion with many beliefs and little doctrine occupied a great proportion of the Vietnamese spiritual life. Men and especially women found comfort in the fact that they could communicate with powerful spirits and could ask for their blessings. These Gods and Goddesses are responsive, and as long as one complies to some general rules for good behaviours and frequently participates in worshiping (which can be costly for comprehensive and extravagant offerings), one and one's family should be blessed with good health and good fortune. In fact, even though Confucianism and Buddhism are believed to exercise heavy influence on the Vietnamese culture, they are both sophisticated sets of ideas and philosophy, which require certain level of education and mediation to fully comprehend and practice. On the contrary, mediumship places more emphasis on faith than rationality, so it is not surprising that this form of religious practice was embraced more enthusiastically by a population overwhelmed with farmers who possessed little formal education yet engaged in a colourful and enriched system of folk beliefs.

In the latter half of the 20th century, the government fiercely controlled mediumship, labeling it "superstitious remnants of feudalism" along with some other age-old customs. Many home-based temples were eradicated and the practice was officially and actively banned all over the country. However, the cult lives on, and by the beginning of the 21st century, actually thrives with assistance and funding from some foreign cultural centers such as L'espace. Researchers begin to focus on this practice not only with a more positive tone but actually associate it with "the soul of the nation" "the most original form of religious beliefs". Moreover, "chầu văn" the singing itself, rather than practice of mediumship, is being proposed to be recognized by UNESCO as cultural heritage.

Facts aside, as I stood against the wall during the performance that night (because I didn't come early enough to reserve a seat), I couldn't help but wondering how many people considered themselves attending a sacred ritual and how many attending a colourful performance. The younger audience like myself, who didn't grow up immersed in stories of local heroes and princesses, were more likely to view the woman in splendid outfit dancing on stage as a performer, while the older ones seemed to be more engaged with the religious side of it. Nevertheless, I couldn't remove myself from the position of an indifferent watcher, yet at the same time, I know I should also be, if not a believer, at least a participant in the ritual. My mind told me so, but my heart didn't stir with any emotion I knew a true believer might be feeling. When the religious goes popular, when a scared ritual is performed on stage, when believers pay to participate, then who I am to know what is being created?

Thứ Năm, 15 tháng 11, 2012

Recently almost every new person I've met told me I look like someone they know. Yesterday, when I talked to an old couple at the bus stop, they said I look similar to a neighbour's niece. Last week, a lady exclaimed that I very much resemble her male cousin (what?). I didn't think about it at first, but this kind of comment starts catching my attention when it happens again and again in a short period of time. Then it dawned on me last night, is it possible that as I collect many life stories, I slowly develop within myself many features from different people, but in the end, I will look like no one?

It's 1.5 year after my returning to Vietnam, and it seems only until now do I feel fully integrated into the society around me. By integration I mean a network I have successfully rebuilt after 4 years being away. I can easily fill my weekends with meeting with friends, attending social events and other activities. A good network means when I need to go shopping or check out a new restaurant, I have friends who I can ask to join me. I no longer get irritated with people's attitude when they ask about my income or my decision not to stay in Canada. People also stop being curious and outwardly obtrusive when it comes to my personal life. I have a boyfriend and I know his family. In other words, I am socially and emotionally secured. It takes me 1.5 year to achieve that.

Besides a full-time job, I am volunteering for 4 groups, and thinking of taking up one more part-time job and various free-lance commitments. The thing I love about these volunteer works is they allow me to participate in growth and the process of growing. With Hagar, an international NGO working with trafficked and abused women and girls, I am assigned to work with a 15 years old girl who was trafficked to China. Basically, I act as a "big sister" by meeting her every weekend, taking her out, exposing her to different groups of people, and hopefully she will gradually feel connected and confident in herself. In the Ha Noi ca tru club, I MC one performance per week, and help them get their name to the online community, especially English-speaking population of tourists and travellers. In addition to these two rather fixed volunteer work, I monitor the website and facebook page for the Rice scholarship program, which provides scholarships for poor students belonging to ethnic minority groups in mountainous provinces. Finally, there is a recently and informally formed group called "the gender talk", an initiative promoted by a local self-identified enthusiastic feminist and few expats working in gender field. I have joined this group for half a year now, and as the founder is going to study abroad soon, she expects that I will take over the organizing part after she leaves.

I have had a disturbing value crisis early this year, jumped through 4 organizations on my way to seek a fulfilling job, and ended up with a job I was very excited in the beginning but after one month was equally disappointed. There is nothing I hate about the job (except the drinking part), but I haven't found anything thrilling either. Yet, seems like 1.5 year has taught me one thing. No job will provide me with everything I want, good salary, opportunity to learn, time to think and reflect, a friendly and supportive team. I'd better be content with a rather boring job, with few chances to learn and grow, but on the other hand I have time to do my own things (like Im writing this post in the office) and don't have to conform to office unstated rules such as wearing high heels, intense make up or glossy dresses.

Something rings true. I have been disillusioned and disappointed a lot after 1.5 years leaving school and diving into the real world, but also, I have started to appreciate this piece of wisdom: "Happiness can be found in the little things you do everyday". After all, when I am stressed out, my little garden always helps, because I love watching plants grow.

Thứ Ba, 13 tháng 11, 2012

1. Sáng thứ hai, sau khi tan cuộc họp giao ban ở xã, tôi đi theo anh trưởng bản mới nhậm chức chỉ tầm ngoài ba mươi tuổi về nhà. Vừa đặt hai túi đồ xuống sàn, còn chưa kịp ngước mắt ngó nhà cửa rộng dài ra sao, anh đã mau mắn chắt rượu ngâm trong bình thủy tinh ra một chai nhựa và mang thêm vài cái chén. Tục lệ ở đây khách mới đến nhà là phải uống ít nhất hai chén đầy, và phải uống cạn. Tôi bắt đầu bài ca "em bị đau dạ dày", vừa kể lể vừa nhấp nhấp. Rượu chát, chưa kịp nuốt đã thấy lưỡi bỏng rát. Cuối cùng tôi đành nhắm mắt nhắm mũi dốc một chén vào họng, rồi tống thêm một cốc nước to, ra cửa đứng ậm ọe như người đang ốm nghén.

Có một điều không thể tranh cãi là rượu đóng vai trò to lớn trong đời sống tinh thần của người Thái. Khách đến nhà chơi nếu chủ không mang rượu ra mời sẽ bị chê là keo kiệt, nếu không uống với khách ít nhất một vài chén sẽ bị coi là không nhiệt tình. Nếu khách từ chối lời mời rượu là không lễ độ, là không trân trọng, thậm chí là vô lễ với ma nhà. Mọi cuộc vui không thể thiếu rượu. Ngày 20/10 được tổ chức từ cấp xóm, cấp bản, rồi lên đến cấp xã, thậm chí cấp gia đình, ròng rã lê thê cả tuần liền, còn lớn hơn ăn tết. Không thấy ở đâu nói về phụ nữ hay quyền phụ nữ, chỉ thấy nhạc xập xình, nhảy múa, và rất nhiều rượu. Đàn ông uống để chúc mừng chị em, phụ nữ uống để đáp lại thịnh tình của các anh các chú. Tôi đi đến đâu cũng thấy những gương mặt đỏ lựng vì rượu, các chị em trong hội phụ nữ uống hăng hái hơn tất cả, "vì mình là người làm phong trào, nếu không nhiệt tình sẽ bị trách". Sự nhiệt tình ấy được quy đổi ra bao nhiêu chén rượu gạo, bao nhiêu vò rượu cần. Một chén đi, là để mời người ta, và một chén lại, là khi người ta mời mình. Các chị phấn khởi thể hiện quyền bằng cách giành mời tất cả đàn ông có mặt, hoặc bắt một người nào đó lần lượt mời từng chị một trong phòng. Dù ai mời ai thì kết quả là tất cả cùng say khật khưỡng.

2. Hôm đầu tiên tôi tìm đến nhà những em tham gia nghiên cứu để xin phép bố mẹ, phần lớn các bà mẹ đi vắng, còn phần lớn các ông bố ngất ngưởng say. Có một ông bố 8x khi tôi đến đang nằm lăn lóc trên sàn nhà trống hươ trống hoác, bên cạnh chồng chất chén, vỏ chai nhựa và bình sành rượu cần đã sủi tăm, cố ngồi dậy nhưng mắt không mở ra nổi, cười nguệch ngoạc một nụ cười của người trí não đã tê liệt. Tôi chắc ông bố này không hiểu nổi một từ anh trưởng bản đang nói bằng tiếng Thái để giải thích về việc tham gia nghiên cứu của con mình, nhưng khi nghe đang phần tiền công tham gia, tức thì vơ lấy cái bút để kí vào tờ biên bản đồng thuận. Tôi muốn quay lại lần khác, nhưng trưởng bản nói một câu rất chân tình "không khí 20/10 đang phấn khởi thế này, còn lâu mới hết say." Đành vậy.

Tôi bị ám ảnh kinh khủng về chuyện bị ép uống rượu. Buổi tối hôm đầu tiên ở bản, em vợ chủ nhà được vào Đảng, tổ chức liên hoan. Bản chưa có điện lưới, chỉ có một số nhà mua máy thủy điện nhỏ đặt ở suối để tạo điện, buổi tối thắp được một bóng đèn dây tóc. Trong ánh sáng tờ mờ của duy nhất một ngọn đèn, tôi vừa đặt chân lên nhà đã thấy một đội quân phụ nữ đang chắt rượu ra hàng chục vỏ chai trà xanh 0 độ, để ở mỗi mâm 4 - 5 chai. Bài ca đau dạ dày ư, đây là rượu thuốc ngâm lá, không hại đâu. Bài ca đau đầu ư, đây là rượu gạo chính cống, uống vào rất êm, chỉ ngủ thôi, không đau tí nào. Tập tục là khi được mời thì phải uống, không được từ chối, không được nhấp môi rồi lại đặt xuống. Hết người này đến người khác mời, uống rồi bắt tay, thế mới là thắt chặt tình cảm. Có người ngồi nói đến 15 phút, "anh bảo Vân này, từ xưa đến nay anh làm phó chủ tịch xã 15 năm rồi, anh luôn dựa trên tinh thần tự giác tự nguyện, tất cả đều vui, đây anh bớt sang chén này một chút rồi em phải uống hết nhé, em bị đau dạ dày à, anh đây suy gan suy mật hàng chục năm rồi, đã chết được đâu, anh không thích uống rượu kể đâu nhé, anh mà thích kể thì có mà cả ngày chưa hết, anh cũng uống từ sáng đến giờ rồi chứ em tưởng một mình em đau đầu à", cứ thế cứ thế, nhất định không buông tha cho đến khi tôi ngửa cổ dốc vào họng cái thứ chất lỏng đốt ruột đốt gan ấy.

3. Tôi được hân hạnh uống chung rượu cần với anh chủ tịch xã sinh năm 83 trong buổi liên hoan tọa đàm 20/10 ở UBND xã, khi tôi vừa ló mặt vào phòng đã bị cả chục bàn tay co kéo xô đẩy ấn xuống trước một hàng dài rượu cần đã xếp sẵn "vào đây uống một chén", và đôi loa đại tướng đang phát ra thứ nhạc bình bịch như đấm vào tai. Chạm mơi, chạm mơi, xô nước lã để bên cạnh, cứ một gáo và một sừng đổ vào vò rượu cần, cứ hai người uống một, lúc là uống giao lưu tình cảm, lúc là thi thố giữa những người trẻ muốn vui, muốn tỏ ra mình là một phần của cuộc vui. Lúc sau, tôi lẻn ra ngoài giả vờ nghe điện thoại, anh chủ tịch xã giãi bày tâm sự. Mỗi khi anh xuống bản, có 40 cụ thì phải uống 40 chén, vì mình là người mới, không uống thì các cụ giận, nhiều khi anh chỉ cố tươi cười được đến lúc họ giải tán về nhà là anh gục ra đấy ngủ không còn biết trời đất. Phải uống được, mà cũng phải đủ tỉnh táo để còn biết họ đang nói gì về mình. Không nghe thì các cụ tự ái, mà nghe cũng phải sau khi đã tiêu hết vài chai rượu gạo và mấy vò rượu cần rồi, lúc mắt đã díp vào và tai thì ù đi. Làm cái chân này cũng khó lắm em ạ.

Trong một cuộc liên hoan khác, có một anh giữ chức gì đó ở xã, nói rằng hôm nay vợ đẻ. Lúc đấy là khoảng 8h hơn, anh vẫn chưa dám đứng lên để đi về, vì sợ bị đánh giá là không nhiệt tình, không tôn trọng đoàn công tác. Anh là người duy nhất không ép tôi uống rượu tối hôm đó, trông mặt buồn buồn, nói thôi anh em mình uống thăm nhau sau. Tôi thấy phẫn uất cho người vợ và đáng thương cho người chồng. Con mới được sinh ra, vợ ở nhà còn đau yếu, mà người bố và người chồng ấy phải ở bên bàn nhậu để thể hiện tấm lòng của mình với những người thật ra là xa lạ, và cũng là để làm tròn bổn phận cao quý của một người cán bộ xã tận tâm.

4. Chị chủ nhà - tức phu nhân trưởng bản - bị đau dạ dày, mỗi khi uống một chén vào là đau bụng đến tận hôm sau. Chị cũng không thích uống rượu, nhưng vẫn nằng nặc đòi uống với tôi một chén để "cảm ơn em" vì tôi đã để lại cho gia đình chị chỗ thuốc mang đi phòng thân và vài đôi tất giấy cho chị dùng mỗi khi biểu diễn văn nghệ cần đi guốc. Chị rất sợ những cơn đau, nhưng khi nhà có khách quý, vẫn phải đứng ra uống thăm, mời họ một chén rượu, bởi vì chị được nuôi dạy để trở thành một người phụ nữ tốt, cởi mở và hết lòng khi khách đến nhà, mà như thế thì không thể không uống rượu. Tôi nói "chỉ cần mời họ ăn ngon, thế là tử tế lắm rồi", chị trả lời "rượu còn cao hơn cơm em ạ".

Tôi không phải là người Thái, nên tôi được coi là khách, được ngồi ở mâm đàn ông. Nhưng tôi vẫn là người Việt, tôi nói gì họ hiểu, dù họ nói tôi không hiểu, nên khi tôi nói "không", họ không tôn trọng lời từ chối ấy. Giả sử tôi là người Thái, tôi đã có thể dễ dàng ngồi cùng mâm phụ nữ, và bỏ qua thủ tục uống rượu. Giả sử tôi là một cô Tây tóc vàng mắt xanh, tôi nói "dị ứng với cồn" hay "đau dạ dày khi uống rượu", có thể họ sẽ thực sự nghĩ rằng cơ thể tôi khác, tôi có những chuẩn mực khác, và sẽ để tôi yên khi đã tha thiết từ chối việc uống rượu. Họ không cho tôi ngồi mâm phụ nữ, cũng không cho tôi ngồi ăn yên lành trong 5 phút mà không ấn vào mặt tôi một chén rượu. Thậm chí nếu tôi là đàn ông, lời từ chối của tôi có lẽ cũng được tôn trọng hơn. Là phụ nữ, lại là phụ nữ trẻ, những người đàn ông mời rượu tôi cảm thấy bị thách đố khi chén rượu mình đưa ra bị từ chối. Khi tôi chấp nhận chén rượu từ tay một bác trai lớn tuổi, và uống hết, bác cười khà khà nói với mấy người trẻ hơn "các chú thấy chưa, mời rượu đàn bà người ta phải có cách", với vẻ rất thỏa mãn.

5. Rất dễ để kết luận rằng người Thái lười, không chịu lao động, vì họ say sưa đến nửa thời gian của năm. Gạo làm ra có thể thiếu ăn, nhưng nhất định trong nhà luôn phải có sẵn rượu. Sắn thì làm rượu cần, gạo thì làm rượu trắng. Càng dễ hơn để kết luận rằng, say như thế nên họ không thoát nghèo nổi, và đấy hoàn toàn là lỗi của những người dân tộc thiểu số.

Tôi nói chuyện với hai bạn trẻ tốt nghiệp đại học Vinh, trở về quê và đã hơn một năm vẫn đang chầu chực để xin vào một chân trong UBND xã. Không có cơ hội việc làm nào dành cho các bạn ở vùng quê này, ngoài bộ máy nhà nước có khoảng 20 nhân viên cho tất cả các phòng ban, mà những người sắp về hưu đã giữ chỗ sẵn cho con cháu nhà mình. Tại sao không ở lại Vinh hay các thành phố lớn khác? Một phần do gia đình không muốn con ở xa, một phần vì ở lại thành phố, thân cô thế cô, tiền lương khởi nghiệp bèo bọt cũng chỉ đủ làm đến đâu ăn đến đấy, thậm chí không đủ sống, nói gì đến nuôi bố mẹ già. Người ta nói nhiều đến giáo dục cho trẻ em miền núi, nhưng đến cả những gia đình khá giả nhất,đủ để nuôi con đến hết đại học, cuối cùng vẫn rơi vào bế tắc.

Nhà anh trưởng bản trồng keo được bốn năm, còn một năm nữa là thu hoạch thì người ta làm đường, phá núi, chặt hết cây đi, giả cho anh chỉ bằng một phần ba giá thị trường nếu khai thác đúng thời điểm. Ngày xưa dân dựa vào rừng để sống, bây giờ rừng là nơi để khai thác gỗ của nhà nước, hoặc của lâm tặc. Người Thái đã từng là một dân tộc rất thông minh biết chọn chỗ sống trong các thung lũng, nơi có nguồn nước dồi dào, được che chắn khỏi bão lũ bởi những núi cao, nơi mà năng suất làm lúa nương của họ cao hơn lúa đồng trũng của người Kinh cho đến khi đồng bằng bắt đầu dùng những giống lúa lai cao cấp và phân bón hóa học. Tiếp xúc với thế giới bên ngoài chỉ khiến họ thấy mình đã bị gạt ra ngoài lề, đã bị coi là thấp kém hơn, và đã bị đẩy vào chỗ rất ít quyền, rất ít tự chủ, và rất ít lối thoát.

Triết gia Paulo Feire có một ý đại loại là "loại hình áp bức cao nhất là khi kẻ bị áp bức tự đày đọa chính họ" (the strongest form of oppression is when the oppressed do it to themselves). Những người Thái cao tuổi kể rằng ngày xưa họ không uống nhiều rượu và không uống bừa bãi như lớp trẻ bây giờ. Và tôi ngờ rằng họ cũng không hề coi việc ngửa cổ dốc rượu vào họng là một tập tục đáng quý của dân tộc mình. Một anh cán bộ xã khác đã hùng hổ tuyên bố trong lúc say "Người Thái chỉ đứng sau người Kinh thôi, người Kinh là số một thì người Thái là số hai". Cái vị trí thứ hai, và sự nhận biết rằng mình là kẻ đứng sau đấy, qua lời bông đùa của anh cán bộ say, nghe có vẻ rất cay đắng.

"Hôm nay mẹ em nấu gạo nếp mới, bữa cơm đầu tiên của mùa này. Giá mà chị đến ăn cùng em, nhưng chị ở xa quá."
Qua điện thoại, giọng em nghẹn lại, còn tôi cũng chẳng biết nói gì. Đó là khoảnh khắc tôi biết mình được yêu.

Cô bé học lớp 7, tóc dài đến eo, nhưng trưởng thành hơn rất nhiều tuổi 12 của mình. Khi tôi vọc tay vào mẹt cơm nóng hổi để cùng bóp cơm làm rượu với mẹ em, mới ngơi tay đã thấy em bưng chậu nước để sẵn sau lưng, rửa tay xong ngẩng mặt lên đã thấy em cầm khăn "chị lau đi này". Trẻ con ở núi thường lớn lên như cây cỏ, nên sự nhạy cảm của em đối với tôi rất đặc biệt. Tôi nhìn quanh thấy bọn trẻ ăn kẹo quen tay vứt vỏ bừa bãi,  buông một câu "các em phải vứt giấy vào một chỗ chứ, sao lại để bừa ra thế này", rồi quanh đi quẩn lại quên bẵng mất, lúc sau nhìn lại em đã cặm cụi đi kiếm cái que củi hất hất kéo kéo gom tất cả đống giấy vụn vào một chỗ. Em nói tiếng Kinh tốt nhất trong đám trẻ tham gia nghiên cứu, thích đọc sách đọc truyện, chỉ có mỗi mình em đã từng đọc truyện "Nàng Bạch Tuyết và 7 chú lùn" mà tôi kể cho cả nhóm, và thích học tiếng Anh. Có lẽ vì những điều ấy mà tôi ít là một người lạ với em hơn với các bạn khác.

Chị sang nhà em ăn cơm thăm nhé, cho vui. Tôi lóng ngóng vì không quen leo trèo đường dốc, còn em thoáng cái đã bỏ lại tôi một đoạn xa. Ở núi mặt trời lặn không có đèn, đường đi sang nhà em phải lội qua một con suối, càng về đêm nước càng chảy xiết. Những ngày còn nhỏ có khi em lội nước đến bụng, đến ngực, thậm chí đến cổ. Em đã từng suýt bị lũ cuốn trôi, đầu đập vào tảng đá côm cốp, may mà túm được vào cành cây. Có hôm đi học nhóm về muộn, trời không trăng, em chạy chân không chạm đất, chỉ mong về nhà thật nhanh. Không có đường, bàn chân em thuộc từng vết mòn, từng mỏm đá. Một lần đang đi em giật thót mình thấy một con rắn hổ mang to tướng nằm ngang đường, em cắm đầu vừa chạy vừa khóc, về đến nhà vẫn chưa hoàn hồn. Rồi những bóng cây, những vạt lá, khi đêm đen trùm lên bỗng dữ tợn lạ thường. Những câu chuyện ma được nghe kể lởn vởn trong trí óc, em sợ bị dắt đi, bị đưa đường chỉ lối rồi không tìm được về nhà, nhưng cứ phải đi, không phải vì em không sợ, mà nỗi sợ đã trở thành một phần của đời sống.

Hôm nhà anh trưởng bản nơi tôi ở suốt chuyến công tác mở mấy vò rượu cần, bị nài ép quá nhiều, tôi bỏ trốn ra bờ suối ngồi để khỏi phải uống rượu. Ngồi một lúc, có một chị đi qua rủ tắm, lắc đầu. Một lúc nữa, có một thằng nhóc choai choai chạy lại chọc ghẹo vớ vẩn. Tôi không muốn về, cũng không biết làm gì, vì lúc ra vội quá không kịp mang theo mp3 lẫn kindle. Ngồi một lúc nữa thì có một bóng người tiến lại gần, hóa ra là em. Mắt người ở núi không tiếp xúc nhiều với các thể loại màn hình điện tử nên rất tinh, em nhận ra tôi từ tít phía bên kia suối. Đấy là một buổi chiều kì diệu.

Chị biết không, khi ngồi lên đá thì phải nói, đá đừng làm em nặng mông, để khi đứng dậy không bị mỏi. Tại sao? Tại vì tất cả những hòn đá đã có lúc là người. Thế những người đấy sao lại bị biến thành đá? Em cũng không biết, khi mặt trời ở một vị trí như thế nào đó, thì người biến thành đá. Ngày xưa đá biết nói, cái gì cũng biết nói, con trâu cũng biết nói cơ mà. Có một anh này đi ở cho nhà giàu, chăn trâu cho người ta, nhưng không cho trâu ăn no, nên trâu về mách chủ. Anh ta bèn dắt trâu đến một ông mo, ông mo cho trâu ngửi hương, thế là từ đó trâu không nói được nữa. Thế em nghĩ trâu nói được hay không nói được thì tốt hơn? Không nói được chứ, nếu nói được thì có gì mình làm nó cũng mách.

Em kể chuyện trường lớp, có cô này giảng bài dễ hiểu, thầy kia giảng quá nhanh, chỉ đọc cho chép, có bạn đó bé tí đã thích ăn diện và yêu đương. Rằng em thích đọc truyện, đã từng đọc cả Truyện cổ Bắc Âu, và bố mẹ bảo còn học được thì sẽ cho đi học. Tôi hỏi em nói được tiếng Kinh từ bao giờ, em bảo từ hồi mẫu giáo cô đã nói tiếng Kinh, nhưng em vẫn thích nói tiếng Thái hơn. Em rủ sang bản bên cạnh chơi, ở trên đó có suối rất đẹp. Em dẫn tôi vào một khe nước cây phủ che kín, bướm nhiều màu sắc bay rập rờn trên mặt nước. Chỗ này nước chảy từ khe ra rất sạch, em nói rồi xé một mảnh lá chuối, chụm lại để múc nước đưa tôi uống. Nước ngọt và mát. Gần tết em và các bạn hay lên rừng lấy lá đót để bán cho người ta làm chổi, kiếm tiền ăn tết. Cây đấy nhiều gai, rất dễ chảy máu tay, có khi em kiếm được năm chục nghìn, có khi được vài trăm. Rồi tết đến nếu có bạn nào có xe đạp đến rủ đi chơi, đèo nhau trên đường nhựa, sẽ rất vui.

Tôi cứ dò dẫm đi sau những bước chân thoăn thoắt của em, và nghe những câu chuyện như thế. Em thường đòi đi sau, đòi dắt tay, vì em sợ chị ngã, còn tôi chỉ quen đi đường bằng thì lóng ngóng đến khổ sở với những vách đất dốc trơn tuột không có chỗ nào để đặt chân hay bám tay vào. Ngày xưa khi trời hạn lâu, có một nhóm người đi vòng quanh bản, đến từng nhà gõ cửa để xin mưa, nhà ấy sẽ lấy cái cành cây vẩy mấy giọt nước, hoặc nếu lạnh quá lâu dân mong trời ấm lên mỗi nhà sẽ hươ hươ môt cành củi đang cháy giòn. Như thế có hiệu nghiệm không? Có chứ, nhưng bây giờ không còn ai làm như vậy nữa rồi. Em kể về những người dùng mìn đánh cá ở dưới suối, nên những con cá to ngày xưa đã chết hoặc bỏ đi hết, giờ chỉ còn cá nhỏ xíu ở chỗ nước nông. Rồi những người làm đường vạt núi, khiến nước suối đục ngầu, tôi nhìn theo ngón tay em chỉ và mơ màng tưởng tượng ra một con suối đã từng rất rộng, rất trong, giờ dấu tích còn lại chỉ là một vài lạch nước ngập bùn chảy leo lét.

Ong đang chuyển nhà đấy chị. Đâu đâu? Bay qua rồi. Sao em biết? Thì em nghe thấy, tiếng rì rì của rất nhiều con ong bay cùng một lúc. Đôi tai thành phố đã quen với bao nhiêu năm còi xe và tiếng người chát chúa của tôi không còn đủ nhạy cảm để nhận ra tiếng những lớp khí chuyển động dưới cánh của hàng vạn con ong ở một góc nào đó ẩn sâu dưới rừng đại ngàn nữa. A, có cầu vồng kìa! Tôi chỉ vào một vạt màu ấm áp ở phía xa. Em vội vã níu tay tôi. Đấy là một con rồng đang ngủ, đừng có chỉ vào nó, nó có thể bắt lấy hồn ta. Nếu muốn chỉ thì phải nói "nhà con gà con vịt kìa", để đánh lừa con rồng không biết là mình đang nói về nó. Ở ngọn núi đấy ngày xưa có con rồng, rồi nó bay về trời từ lâu rồi...

Em bao trùm tôi trong một không gian bàng bạc sự kì ảo của những truyền thuyết, những câu hát cổ bằng thứ tiếng Thái đã không còn được dùng nữa, của những niềm tin rất vững chắc về rồng, về những linh hồn lẩn khuất trong ánh trăng bóng nước, về những sức mạnh kì vĩ và con người chỉ là một phần nhỏ bé, trong cách em chỉ vào một gốc cây, một tảng đá, một góc trời và giảng giải với rất nhiều hồn nhiên, pha lẫn sự luyến tiếc, nhưng vẫn cứ dịu dàng. Dịu dàng và ảo diệu như cái khoảnh khắc em dạy tôi một bài hát trẻ con bằng tiếng Thái ở đầu hồi, giọng em trong vắt, nắng vàng tan chảy trong những mảng xanh trải dài, và tôi cuống quýt lấy máy ghi âm ra ghi lại những phút ấy, mà biết rõ ràng không có công cụ nào, hay bút mực nào, có thể lưu giữ hay diễn tả lại một khoảnh khắc rất đẹp đến mức thần tiên như vậy.

Đôi khi tôi tự hỏi có phải vì tôi hay cho kẹo, tôi là người lạ, hay vì lẩn quẩn bên cạnh tôi em sẽ được bạn bè kinh nể hay không. Nhưng nghĩ lại, rất có thể em quý tôi bởi vì tôi thật lòng thích thú với những điều em kể, vì tôi có thể lắng nghe không biết chán những điều người lớn đã cho là chuyện xưa còn trẻ con cũng không quan tâm nữa. Bình thường một đứa trẻ ở nông thôn không có nhiều cơ hội để nói, nhất là với người lớn, vì họ còn quá bận rộn với chuyện kiếm ăn, hoặc không hề nghĩ con mình có điều gì đáng nghe. Tôi cũng không biết rõ nguyên nhân là gì, tôi thích nghe chuyện còn em thích kể chuyện, có lẽ điều đơn giản ấy kéo chúng tôi lại gần nhau. Em quyến luyến tôi hơn tất cả những đứa trẻ khác trong nhóm, và hôm cuối trước khi tôi rời bản, em đã níu cổ tôi, rớt nước mắt mà rằng "Chị Vân ơi, em sẽ rất nhớ chị."

Còn tôi thì vô cùng biết ơn cô bé mười hai tuổi mỗi sáng phải đi bộ một tiếng để tới trường, lội suối băng núi, từ lúc bốn tuổi đã biết nấu cơm giặt quần áo và lên nải tìm trâu, những mùa giáp hạt đôi khi nhà thiếu cơm ăn em sẽ nhường phần của mình cho em trai còn bản thân ăn sắn, và thích học tiếng Anh để "sau này ra ngoài đường lớn người ta nói em còn hiểu", vì em đã cho tôi thấy cuộc đời như thế thật ra rất vui tươi.

(Và sau đây là bài hát "Con chuồn chuồn" trong quá trình dạy và học)

Thứ Tư, 7 tháng 11, 2012

...có trở nên tươi sáng hơn hay không, điều đó tùy thuộc vào bạn.  Hãy mua cuốn sách này ngay khi nó ra lò để đóng góp cho nền kinh tế Việt Nam:))





Ngọc Bi

Dẫu đã kết thúc vai trò ông chủ gallery phi lợi nhuận gần tròn một năm qua, họa sĩ Lê Thiết Cương vẫn chưa thể kìm nén “nhu cầu” được nói, được chia sẻ về những giá trị văn hóa và nghệ thuật cốt lõi mà anh luôn đau đáu.
Dưới đây là bài phỏng vấn họa sĩ Lê Thiết Cương của Ngọc Bi:

Lê Thiết Cương 
Họa sĩ Lê Thiết Cương



Làm thế nào để công chúng hướng tới nhu cầu thưởng thức nghệ thuật, hội họa nhiều hơn nữa? Cần những điều kiện gì để tranh Việt mới có khách hàng Việt?

Muốn thưởng thức bất kể điều gì thì phải hiểu biết về điều đó, mà muốn hiểu biết thì phải học. Kiến thức không phải là tờ vé số, ai đó có thể bỗng dưng trúng số nhưng tri thức thì không thể có chuyện hôm trước còn rỗng tuếch, hôm sau đã tràn trề được.
Ngay cả ăn còn phải học, gói mở còn phải học huống hồ thưởng thức nghệ thuật, thưởng thức hội họa. Cái sự giáo dục ở nhà trường chỉ là một phần, người ta phải tự giáo dục mình, tự học về nghệ thuật để hiểu về nghệ thuật. Điều kiện bây giờ đã quá dễ dàng so với thời trước, từ sách vở, thư viện, interrnet, bảo tàng. Cái chính là người ta có muốn hay không thôi.
Tự học hỏi nghệ thuật để hiểu biết và thưởng thức được nghệ thuật, trước tiên là để làm giàu cho đời sống tinh thần của chính mình, làm đẹp cho tâm hồn mình (chứ có làm đẹp hộ cho ai đâu). Cứ tưởng đó là một nhu cầu tự thân, một lẽ đương nhiên nhưng những gì diễn ra hiện nay thì không phải như vậy. Cả một xã hội chen lấn xô đẩy, chạy theo vật chất, tôn sùng vật chất, lấy vật chất làm thước đo cho mọi giá trị. Sự nguy hiểm của tình trạng chênh lệch giàu nghèo thì ai cũng nhìn thấy nhưng ít ai thấy sự nguy hiểm của tình trạng chênh lệch giữa phát triển kinh tế và văn hóa.
Để trả lời làm sao cho người tiêu dùng Việt có nhu cầu thưởng thức nghệ thuật, để có thể nghe được ca trù, xem được chèo, nghe được âm nhạc cổ điển châu Âu, biết thưởng thức hội họa thì rất dễ nhưng làm mới khó. Nói ngắn gọn là khi xã hội biết đề cao những giá trị văn hóa, khi mọi người đều có nhu cầu tự học hỏi, tìm hiểu nghệ thuật, biết tôn vinh những giá trị nghệ thuật... dễ nói nhưng khó làm. Kiếm tiền đã khó nhưng dứt khoát kiếm văn hóa còn khó hơn nhiều. Để có văn hóa thì đòi hỏi phải có một quá trình. Ít nhất năm mươi năm nữa mới hy vọng về một thị trường nghệ thuật Việt của người Việt.

Phần lớn các họa sĩ VN hiện nay đều sống nhờ những nguồn thu nhập khác, trong đó đáng buồn là thu nhập được từ tranh lại rất ít. Theo anh, nguyên nhân do đâu mà họa sĩ không sống được bằng nghề chính của mình?

Ở đâu cũng vậy chứ không phải ở VN, phần lớn họa sĩ đều sống nhờ hành nghề vẽ, làm trang trí, làm nội thất, thiết kế đồ dùng, sách báo, quảng cáo tức là nghề mỹ thuật ứng dụng sẽ có nhiều công ăn việc làm hơn và thực tế hơn là mỹ thuật hiểu là tranh vẽ. Tách bạch mỹ thuật và mỹ thuật ứng dụng sẽ thấy họa sĩ đều sống được bằng nghề. Những họa sĩ nào không sống được bằng nghề vì họ không có nghề mỹ thuật ứng dụng, họ chỉ biết vẽ mà vẽ lại chưa đẹp.

Anh có sống được bằng nghề không, hay cũng tùy giai đoạn? Làm thế nào để luôn giữ được ngọn lửa sáng tạo?

Tôi sống được bằng nghề chứ, vì ngoài vẽ và vẽ ứng dụng, tôi cũng chả biết làm gì, không biết kinh doanh, không biết mua nhà để cho thuê, không biết buôn đất buôn cát. Tranh cho dù là nghệ thuật nhưng đã là buôn bán thì tranh cũng là một mặt hàng. Lúc thì ế sưng, lúc thì "tôm tươi" tùy từng giai đoạn, chả biết thế nào mà lần, giả sử mà biết được thì... nói làm gì. Ba năm nay chả bán được nửa cái tranh nào nhưng vẫn là sống được, sống được bằng nghề, sống được bằng tiền bán tranh của giai đoạn trước. Thế nào mà chả sống được?
Lửa sáng tạo nó cháy bằng tình yêu của mình với nó. Mình yêu vẽ, ngọn lửa ấy cháy tự nhiên, muốn nó tắt cũng chả xong, có gì mà phải giữ.

Lời khuyên cho các họa sĩ trẻ mới bước vào nghề?

Khi đã làm họa sĩ thì một họa sĩ chân chính nên đồng thời là trí thức, đừng chỉ vẽ bằng tay, bằng mắt mặc dù hội họa là nghệ thuật thị giác; phải vẽ bằng sự hiểu biết, bằng trải nghiệm sống.
Một họa sĩ chuyên nghiệp không phải là người vẽ nhiều hay ít, sống được bằng bán tranh hay không (vẫn có nhiều họa sĩ vẽ xấu mà bán chạy). Họa sĩ chuyên nghiệp là người cả đời từ khi cầm bút vẽ đến khi chui vào quan tài luôn luôn đau đáu một việc vẽ thế nào chứ không phải vẽ gì. Tức là luôn luôn vật vã với tất cả các "gạch đầu dòng" của phạm trù hình thức, nào là màu, hình, bố cục, nào là bút pháp, chất liệu, đậm nhạt, kích thước…
-------------
Theo: "Thanh niên Online"

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012

There was a farewell party the last night I spent in Nat To village. As the night drew on, guests and hosts alike consumed more and more alcohol. After they finished all rice wine, they switched to cassava rice (ruou can), jar after jar. The men became a bit too pushy and touchy. When they started playing loud music, popped open a new jar, cheered as if they were in a football match and swang with the music, I decided that I had had enough of it, and ran off with the girls.

I spent that night on the bed of my most favourite girl in the group. She is 12, skinny, long hair, probably is more fluent in Vietnamese than all other adolescents I worked with, and definitely a kind, considerate and very thoughtful girl. She actually seems much more mature than her age. Throughout the night, she had silently hid her tears and occasionally held on to my neck as though she didn't want to let go of me.

As I couldn't sleep, my mind wandered to a thought of bringing my books to these children. I could easily visualize how these young adolescents who lack exposure to the outside world yet very curious and eager for new things, would enjoy reading and expanding their minds thanks to my books. But as soon as the thought stirred up, I hesitated. Books are the last thing I want to give away. I donate money and clothing from times to times, but when it comes to books, they are just such a big part of who I am and how my past was constructed that I shuddered at the thought of giving them away.

The next morning, I asked the girl if she thought her friends like reading, and whether they had time for that kind of activity. Kids are busy with all kinds of family duties and domestic work there. They have school for 6 days, everyday from 7am to 5pm, and they take care of younger siblings or nieces/nephews, animals, cooking and cleaning for the girls and catching fish and finding bamboo for the boys. I could tell that her eyes lit up at the thought of having some books to read at home. They have a small "library" at school, which is open during lunch break for a few days a week when the "librarian" feels like doing her job, otherwise it is locked up, and there are only a few books and old newspapers anyway. No one has newspapers at home, TV is rare. They don't even have wired electricity yet. Most use small hydroelectric generators placed in a small stream, so the power is usually not high enough for operating a TV in the evening, when lighting a bulb is much more of a priority.

She said "yes" to my question. Then I asked her if I sent some books, would she be able to take care of them, lend out to other kids, and manage the whole thing. She said yes. I asked if her parents would mind if too many children come to their house and stay there all day long. I started thinking parents and teachers might complain that their children spend too much time reading and neglect other duties. The authorities might even involve, who are you and why are you giving these children the books, what type of books are there, blah blah blah. I was anxious that my colleagues would think I set out a bad example if I give such a special treatment to one village and not the other, which might create jealousy. They might be upset because I acted too good, which makes them not so good in the eyes of the villagers. I was worried about many things.

But she was too excited for me to disappoint her, once I had brought the possibility up. So I told her when I got home I would send her some books, and though they are for everyone, she will be responsible for maintaining them. I knew that moment she was happy, and other kids who heard the news were happy too.

However, when it was time to pack up the books, I almost regretted my decision. These are the books I bought with money I saved up little by little, and have cherished them for over the last 10 years. They are the witness of my growing up, I spent time reading them, thinking about them, and in turn was shaped by them. I put one book in and the other book out. It was like giving away my childhood and my teenager years. I still remember which books were bought on what occasions, where I bought them, or who gave them to me. I flipped through the pages, seeing humidity and dust leaving a faint press on the pages, and recalled how white and fresh they were when I first got them. Each book has a memory behind it. It wasn't just about buying a stack of paper, it was a meeting between us, me and my book, or a conversation. I am just a citizen in their world.

Then I thought of the children, of how much potential they have yet how little opportunities are given to them. Perhaps the books will stir something in their minds, like they did in mine. Perhaps they will be aware of the world outside their village, extend the boundaries of what they can dream, and grow more confident in what they are capable of. The books, left on my bookshelves, are a part of me, but going to them, they can be a part of many more childhood and teenage years. They have served me, it's time for them to go out and serve other young souls and minds.

Finally, I worked up the courage to close a luggage full of books, my most beloved friends and teachers. On my way to the bus terminal where I sent the luggage, I felt the weight on the motorbike, but also the hollowness in my heart. It was like giving away my very blood, and a lot of blood. No matter how much I kept consoling myself that these books are just paper in my home, because I am not very likely to read them again, but in the village they will once again be alive and have the power to open up imagination, which maybe they much prefer than getting old and dusted on my shelf, I still felt cracked. It was like saying goodbye to, not a friend, but myself.

"I am giving what I love to those people I love". The thought came to my mind. Emptiness swallowed me as the luggage disappear underneath the bus. A raindrop kissed on my lip. I drove home alone, hoping that the books will be to the children what they have been to me.

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012



Thế là sau các cuộc phiêu lưu cùng một chàng nam tước
suốt đời chân không chạm đất (Nam tước
trên cây), một vị tử tước thân chia làm hai nửa (Tử tước chẻ đôi), người đọc Việt Nam lại có dịp diện kiến một nhân
vật kỳ lạ không kém - một hiệp sĩ không hiện hữu trong tác phẩm cùng tên của
nhà văn Ý Italo Calvino.  Hiệp sĩ không hiện hữu là cuốn thứ ba và cuốn cuối cùng trong bộ sách Tổ tiên của
Đây là gần trọn bộ Steinbeck đã được dịch ra tiếng Việt. Tuy nhiên, bộ này không phải của tôi mà của Kim giáo chủ thần thông quảng đại - vua Nobel ở Việt Nam.





Ngoài những cuốn quá quen tên, có một số cuốn khác không nói thì rất khó biết được dịch từ cuốn gì. Chẳng hạn, Tình người chính là Tortilla Flat (như đã nói, cuốn này sắp có bản dịch mới). Chuyến xe định mệnh là The Wayward Bus mà bản