Lưu trữ Blog

Được tạo bởi Blogger.

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2012

Bạn Nấm 23 tuổi, có lẽ cao khoảng 1m30. Thường mỗi khi gặp chỉ thấy cái đầu bạn lấp ló sau chùm bóng  lúc nào cũng như sắp tuột khỏi tay để bay lên trời, nên cũng không cảm thấy bạn thấp lắm. Sau khi biết là bằng tuổi nhau, tôi chuyển sang xưng hô "bạn - tớ", nhưng không biết vì quen hay để thể hiện sự tôn trọng mà bạn vẫn tiếp tục gọi tôi là "chị".

Bạn Nấm hay đứng bán bóng ở đài phun nước bờ Hồ. Cứ đi qua hay đứng lại một chút mà nghe bạn nói chuyện và cười đùa với những người bán bóng bay khác thì tưởng bạn chỉ là một cô bé 16 tuổi vô lo nhất trần gian. Cá heo nhé, hay là ăng ri bớt, em có cả con chim màu xanh, chị có lấy không? Sự hiền lành và trong trẻo của cô gái ấy vẫn chưa bị việc bán buôn nơi góc đường làm lu mờ thì phải, nên bạn không chèo kéo, không nài ép, không nói thách, chỉ mời khách khi họ hỏi, và cười.

Một tay lúc nào cũng giơ thẳng đứng lên trời vì bị chùm bóng đủ cả siêu nhân công chúa Pikachu trái tim xanh đỏ kéo. Tay kia nắm lấy một thanh tre, đầu thanh tre buộc một chùm bóng cầm tay, bóng này không bay nhưng mà có buộc quả chuông nên kêu leng keng, trẻ con rất thích cầm chơi. Bạn người Bắc Ninh, lên Hà Nội từ năm 16 tuổi và cũng bán bóng được gần 6 năm rồi.


Em chắc là có duyên bán bóng bay ý chị ạ. Hồi đầu tiên em lên đây là đi giúp việc cho một nhà chủ, vì ở quê em là chị cả, còn 5 đứa em nữa cơ, nên bố mẹ em bảo đi làm còn phụ bố mẹ nuôi các em. Đợt đấy cứ mỗi lần ra ngoài đường em thấy cái gì cũng lạ lắm, sao mà lắm người lắm xe thế. Rồi em nhìn thấy những người ta cầm bóng bay đi bán ngoài đường này này, em cứ nghĩ bụng cầm thế nhỡ chẳng may bóng bay lên trời thì sao, rồi cầm lắm thế bán đến bao giờ mới hết. Nhưng mà em cứ hay ngắm vì bóng bay vừa nhiều màu, lại nhiều hình, có lần em thấy một cô công chúa mặc váy xòe bay lên trời đấy.

Có cả một đội quân bán bóng bay đứng ở đài phun nước bờ Hồ. Cứ mỗi lần có người dừng lại, hoặc có vẻ muốn mua bóng, là ít nhất hai ba người sẽ xúm lại hỏi han. Tôi cũng chẳng nhớ tại sao tôi đã mua bóng của bạn Nấm, hôm đấy tôi mua một con Angry Bird màu đỏ, ba mươi nghìn về cho cháu Nhím, mà lúc mang về thì cháu đã về mất, một tuần sau là bóng xịt, chim đỏ không bay lơ lửng được nữa bị tống vào thùng rác.


Đi làm, xa nhà lần đầu tiên nên em rất nhớ bố mẹ và các em. Em cứ đợi nhà chủ đi là em lại lấy điện thoại gọi điện về nhà. Đến cuối tháng em bị mắng té tát, và bị trừ lương vì gọi điện nhiều quá. Một thời gian sau em đánh vỡ một cái bát, mà nhà chủ nói mãi, còn xúc phạm đến bố mẹ em ở quê, lúc đấy em xin nghỉ việc, nhưng không dám về nhà mà cứ đi lang thang ở ngoài đường cả buổi chiều. Đến chập tối thì có một chị đi qua, chị ý hỏi em có chỗ ngủ chưa, không thì về chỗ chị ý ngủ. Chỗ chị ý có bao nhiêu là bóng. Ai cũng bảo con bé này bé tí thế thì có làm nổi việc nặng không? Cuối cùng em xin các chị ý cho đi bán bóng cùng.

Nghe chuyện của bạn mà tôi rùng cả mình. Có bao nhiêu cô gái như thế, đi theo một người phụ nữ tốt bụng như thế, và đã bị rơi vào nhà chứa, bị ép thành gái bán dâm, và vĩnh viễn bị cướp mất con đường làm người lương thiện? Từ tốt đến xấu có xa xôi gì đâu. Chỉ cần là một cô gái trẻ, bơ vơ, bối rối, và không có chỗ để quay về. Cô gái đang cười rất tươi đứng trước mặt tôi đã có một ngã rẽ may mắn, và đang kiếm tiền chân chính bằng những trái bóng đủ màu đã từng khiến cô ngẩn người đứng ngắm đến nỗi suýt bị xe đâm, nhưng cuộc đời cô cũng hoàn toàn có thể đã rẽ sang ngả khác.

Nấm chọn nghề bán bóng vì nó nhẹ, phù hợp với khổ người hạt tiêu vì bạn không thể gánh những thúng hoa quả nặng đến năm sáu chục cân như các chị các cô khác. Còn một lý do nữa, là đi làm thế này bạn có nhiều tự do hơn so với đi làm nhà máy hay giúp việc gia đình. Bạn Nấm không thích về quê, và khi tôi hỏi đã bị giục lấy chồng chưa, bạn chỉ lắc đầu lè lưỡi. Lựa chọn của cô gái ấy cũng có thể là sự phản kháng lại một tương lai cố định: lấy chồng, đẻ con, nuôi con, nuôi cháu. Mỗi ngày bạn đếm từng người khách mua bóng, biết là hôm nay mình bán được mấy con Kitty, mấy con cá mập, và mỗi buổi chiều sớm, khi đứng xếp hàng bơm bóng ở chủ lò, bạn lại nhìn mây đoán trời nắng hay mưa, vì nếu bơm nhiều mà bị mưa bất chợt, bóng bị ngấm nước sẽ hỏng hết.

Buổi sáng bạn Nấm đi dọn nhà thuê, tiền công được vài chục. Buổi chiều đi bơm bóng, chiều muộn đi rong vài phố rồi tối đứng ở đài phun nước. Đêm khuya, tầm 11h, mới rảo bước đi về. Trưa nào cũng ăn mì, đến nỗi mấy chị ở cạnh phải thốt lên khen ngợi tài ăn mì gói ngày này qua ngày khác. Tối ăn linh tinh, hàng gì đi qua thì ăn hàng nấy. Lâu lâu về thăm nhà một lần. Thinh thoảng đang đứng lại có một đôi cô dâu chú rể cùng đoàn tùy tùng ra chụp ở đài phun nước, tiện thể mượn chùm bóng bay làm nền, trêu chọc nhau cười rộn rã.

Có một lần em đang mải bán hàng cho một chú mua bóng cho con gái, thì có một ông hỏi "bóng bán thế nào đây". Em ngước lên thì nhận ra là ông phó phường Hàng Bài. Ông ý túm lấy tay em rồi giằng bóng. Em giằng co một lúc nhưng vì ông ý là đàn ông nên không giật lại được. Mọi người ai cũng xin tha nhưng ông ý không nghe. Bóng của em bị thả lên trời hết. Lúc đấy người em như không còn tí sức lực nào, chẳng biết làm gì nữa. Em ngồi bệt xuống đường, nước mắt trào ra như suối. Có người cho em năm chục, người cho một trăm. Lúc đấy em vừa ra, còn chưa kịp ăn gì, mà miệng đắng nghét chẳng ăn nổi nữa. Em thất thểu đi về, hôm sau lên cơn sốt. Chỗ bóng bị thả mất em phải trả nợ đến mấy tuần sau mới hết.

Bạn Nấm có hàm răng rất đều, mỗi tuần tự cho phép mình đi đắp mặt một lần, hay mua kem đãi các chị bán bóng cùng nếu là người mở hàng đầu tiên, và đã nói chắc như đinh đóng cột với tôi rằng "em tin vào lựa chọn của mình".
Ngay lúc đấy, tôi đã ước giá mình có một chiếc máy quay ở trong tay để ghi lại những bước chân thoăn thoắt của bà cụ. Chúng tôi đi phía sau bà dọc phố Cầu Gỗ. Bà lão nhỏ thó, nhăn nhúm, cong queo, đẩy một cái túi có gắn bánh, bên trong chất đầy những thứ hàng lỉnh kỉnh, mà đi không cần nhìn trước sau. Trong khi chúng tôi ngó ngang ngó ngửa vì đường rất chật, thì bà cứ đi băng băng như đang bay trên mây. Có lúc tôi tưởng  bà là nước, len lỏi vào những khe hẹp giữa một chiếc ô tô và vài người đi xe máy, mất hút trong một đám đông những người trẻ tuổi nhuộm tóc xanh đỏ lênh khênh trên những đôi giầy cao chót vót, rồi thoắt một cái bà lại hiện ra từ đằng sau họ, và mải miết đi. Tôi cắm cúi đi theo, tự hỏi không biết đến bao giờ bà mới dừng lại.

Trong ấn tượng của tôi, những người già hoặc đi khoan thai, chậm rãi, hoặc bước khó nhọc nặng nề. Nhưng cách bà bước đi rất đặc biệt, vì bà tập tễnh, tưởng như chân này nhấc lên là có thể dẫm đè lên chân kia ngay lập tức. Vậy mà không, cái lưng cong và đôi chân đã rất yếu ấy không hiểu lấy sức mạnh ở đâu ra mà cứ điềm nhiêm rảo bước, đẩy cái xe hàng ở phía trước, và lách rất khéo qua những con phố ken dầy người một tối cuối tuần.

Cuối cùng, bà dừng lại ở dưới chân một cửa hàng bán trang sức và đồ lưu niệm ngay cạnh bờ Hồ, rồi tỉ mẩn nhặt những thứ hàng từ trong túi ra xếp lên hai cái mẹt tre. Vài chai nước khoáng, C2, vài phong kẹo cao su, vài túi hạt hướng dương, vài thỏi kẹo ngọt, vài bao thuốc lá, và vài quả mận đựng trong một cái rổ nhựa con màu xanh. Bà sắp xếp khoảng nửa tiếng, trong thời gian ấy chúng tôi trò chuyện với một cô bán mã thầy bên cạnh, vì cứ đứng giương mắt nhìn khi bà đang bận bày hàng thì cũng thật kì cục. Ở cái tuổi mà người ta được phép run rẩy và vụng về, cái mẹt trước mặt bà vẫn đâu ra đấy. Tóc bạc, răng đen, lưng còng, da tay như không còn bám vào xương nữa mà gập lại thành bao nhiêu nếp gấp, bà bó gối ngồi dựa lưng vào khoảng tường trước cửa hiệu đèn sáng lóa.

Ngày nào bà cũng bán hàng ở đây từ 8h đến 3h sáng, đẩy hàng ra rồi lại tấp tểnh đẩy xe hàng 3km để về chỗ ở trọ. Bà đã ngoài 80, quê ở Nam Định, và hiện giờ không còn người thân nào ngoài cô con gái ở quê đã túng bấn lại còn đông con. Câu chuyện bà kể cho chúng tôi là về ba người con trai, họ đều nghiện rượu, bà đều cố gắng vun đắp rất nhiều cơ hội để những cậu con trai ấy thay đổi, nhưng họ đều lần lượt chết. "Tất cả tiền tôi làm ra cô ạ, chúng nó đem đi uống rượu hết, rồi chết hết." Bà rời quê ra Hà Nội để làm ăn, vì con mà lụi bại, bám trụ lại đất này để mong con sẽ nghĩ khôn ra, nhưng rồi những cậu trai ấy đều đốt đời mình vào rượu.

Tôi hỏi bà về nhiều thứ khác, nhưng dường như chẳng có câu từ nào lọt vào tai bà, ngoài những cái thở dài
"chúng nó nghiện rượu, tôi cũng cố gắng, nhưng mà cũng hết". Bà có một cái đài cũ, do một cậu bán bóng bay biếu, để ngồi nghe những lúc bán hàng. Thỉnh thoảng có một bác xe ôm mua một điếu Vina lẻ, tự bỏ một nghìn vào cái mẹt của bà, tự lấy thuốc lá, tự châm. Một người khách du lịch mua chai nước, có lẽ muốn hỏi chuyện gì đó, nhưng bà chỉ móm mém cười.

Tiếng đài kêu rè rè, bà bảo cũng không tốn pin lắm đâu. Mỗi ngày tôi lại đi mua thêm vài thứ, phong kẹo, chai nước, gói hạt dưa. Tôi hỏi đêm khuya như thế bà đi về một mình có sợ không, bà bảo già rồi có gì nữa mà cướp, tôi chẳng sợ gì cả. Thỉnh thoảng có mấy chú nghiện gặp tôi thì tôi đưa bao thuốc, các chú ấy lại đi. Đông cũng như hè, bà ngồi dựa lưng vào bờ tường và hướng mặt đón những nắm bụi và vệt đèn đường vàng vọt hắt lên.

Mỗi ngày tôi ăn một bữa cô ạ, còn đâu thì ăn cái bánh mì cũng đỡ đói. Già rồi cũng không tiêu tốn gì nhiều. Công an cũng không đuổi vì bà già, với lại có cái gì đâu mà bắt. Tôi lại hỏi bà có khi nào về quê không, thì bà chẳng nói gì nữa. Và lại tiếp tục câu chuyện về những cậu con trai.

Tôi nghĩ lúc ấy mắt bà đã không còn nhìn thấy tôi, tai bà cũng chẳng nghe được những lời léo nhéo đang phát ra từ cái đài cũ. Người già sống trong quá khứ, có lẽ chỉ chớp mắt một cái là bà đã thấy ba người con nghiện rượu của mình. Bà ngậm ngùi, nhưng không có vẻ trách, cũng không có vẻ buồn. Ngày xưa bà làm công nhân trong nhà máy của nhà nước, hết bao cấp nhà máy giải tán bà mới lên Hà Nội vừa để kiếm việc, vừa để cho con ăn học, mong là gần chỗ đô hội thì chúng nó sẽ sáng dạ ra. Bà bắt đầu bán hàng từ những năm 90, lúc đấy đường phố còn thưa người lắm.

Bà 84 tuổi, ngày nào cũng đi đi về về gần chục cây số, chân thấp chân cao thoăn thoắt bước trên đường. Chỉ riêng việc bà bán hàng 7 tiếng mỗi ngày, bất kể nắng mưa, không vui, không yêu đời nhưng cũng không nghĩ đến chuyện chết, tôi đã cảm phục lắm.

Thứ Tư, 25 tháng 7, 2012

thì đã nhìn thấy cái bìa chắc là cuối cùng...

Ai bảo làm bìa dễ, làm bìa khó lắm chứ?:)

(câu này dĩ nhiên nhại từ: Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ)



Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012



Trước lúc ngủ say
là một cuốn tiểu thuyết tâm lý hình sự của Watson, Nguyễn Lê My Hoàn dịch, NXB
Trẻ; còn Trước lúc đi ngủ là tên một
entry của tôi. Chính là entry này!



Thường buổi tối, sau khi đã tống được hai con heo con và
chó con đi ngủ, tôi sẽ ngồi vào bàn dịch vài trang. Đến khi díp mắt, thì đi tắm
cho tỉnh, rồi mở một cuốn sách nào đó ra đọc vài chục trang. (Đã từ lâu TV
không còn là

Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2012



Các nhà sưu tầm sách hẳn là sẽ khoái đoạn sau trong bài Unpacking My Library, nằm trong cuốn Illuminations của Walter Benjamin:




"Trong các thể thức thu thập sách thông thường, cách thích hợp
nhất đối với một nhà sưu tầm là cách mượn sách mà không bao giờ trả lại. Người
mượn sách có tầm vóc đích thực mà ta hình dung ở đây chứng tỏ mình là một nhà
sưu tầm sách kỳ cựu không hẳn bằng sự nhiệt

Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2012



+ My father was a self-educated man who had made himself a
journalist. He read in his own way. […] He read 
many books at once, finishing none, looking not for the story or the
argument in any book but for the special qualities or the character of the
writer. That was he found his pleasure, and he could savour writers only in
little bursts.





+ I didn’t feel
competent as a reader until I was

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2012

Mai Chi

Với tất cả những kêu ca và phàn nàn về một môi trường hoạt động nghệ thuật khó khăn, đời sống sinh hoạt nghệ thuật đương đại của năm 2011 vẫn tương đối phong phú. Gần như tuần nào cũng có ít nhất một sự kiện xảy ra, một triển lãm được khai mạc. Các hoạt động không chỉ tập trung tại một khu vực, mà trải đều ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và cả ở Huế. Điều đáng chú ý nữa là vai trò của các cơ quan văn hóa nước ngoài như Viện Gớt, Hội đồng Anh hay L’Espace của Pháp đã giảm thiểu đi nhiều; ngược lại các phòng tranh và không gian nghệ thuật do cá nhân điều hành hoạt động tương đối đều. Có vẻ như khu vực tư nhân đã trở thành người gánh vác chính trong việc đưa nghệ thuật đương đại đến với công chúng. Nếu như kiếm tiền từ làm nghệ thuật còn khó khăn thì dường như việc kiếm tiền từ chỗ khác để làm nghệ thuật đã dễ dàng hơn nhiều.

Về nội dung, 2011 cũng tương đối đa dạng, với các giọng nói, phong cách và chủ đề khác nhau. Không có tham vọng đề cập tới tất cả những điều đáng lưu ý, trong khuôn khổ bài viết này tôi muốn nhấn mạnh tới ba nét thú vị nổi lên: sự quyết liệt của phụ nữ, những tiếp cận khác và chủ nghĩa bảo thủ mới.

Sự quyết liệt của phụ nữ

Nếu như những nghệ sĩ nam của thế hệ đầu của nghệ thuật đương đại là những người đầu tiên mang thế giới nội tâm mình vào tác phẩm, một hành động mới mẻ trong môi trường nghệ thuật mòn mỏi và sáo rỗng của 15 năm trước, thì dường như các nghệ sĩ nữ là những người bây giờ tiếp tục hành trình mổ xẻ và tự vấn bản thân này. Và họ làm việc đó một cách quyết liệt, tới mức ta có cảm giác nó liên quan tới việc sống còn của họ. Lý Trần Quỳnh Giang và Lại Thị Diệu Hà là những ví dụ điển hình cho xu hướng này.
Trong Ốm à?, triển lãm mang tính tự sự gần đây nhất của Lý Trần Quỳnh Giang tại Vietart Center, sự cô đơn lặng lẽ toát ra từ các chân dung chỉ toàn là mắt và những ngón tay khẳng khiu. Ở một nhóm tranh khác, những hình khỏa thân nữ của chị cũng có những cái nhìn ám ảnh, không buông tha như vậy. Cái đau được thể hiện một cách không cầu kỳ, không phô trương hay nổi loạn. Nó đã được chấp nhận, đã trở thành một phần của thế giới nội tâm của tác giả, và do vậy, nó thậm chí cũng không đi tìm sự an ủi từ người khác.

 Tranh Lý Trần Quỳnh Giang.


Trong khi những chân dung mắt-tay của Giang có phần bị lặp đi lặp lại thì với tôi, những phụ nữ khỏa thân của chị có sức cuốn hút lâu bền hơn. Chúng vừa trực diện vừa thầm kín, mạnh mẽ bởi không che đậy sự tổn thương. Chúng làm tôi nhớ tới loạt tranh tự họa của nữ nghệ sĩ Áo Maria Lassnig lúc đã trên 80 tuổi, khi bà quan sát những cảm xúc thân thể của mình. “Thực tại duy nhất là những cảm giác của tôi, trỗi dậy trong khuôn khổ của cơ thể tôi” bà viết. Câu này dường như cũng được viết cho loạt tranh khỏa thân của Giang.

Hoài nghi, Maria Lassnig, 2004-05. (Nguồn: Internet)

Lại Thị Diệu Hà là một nữ nghệ sĩ khác cũng lấy cơ thể và tiểu sử của của bản thân làm trung tâm cho các sáng tác của mình. Chị dùng những trình diễn để chú giải và ghi lại quá trình phát triển bản sắc của mình, trong đó quan niệm về cái đẹp của phụ nữ, tự nhận thức về hình ảnh cơ thể, về những xiềng xích mà nó đem lại và quá trình giải phóng bản thân là những chủ đề chính. Trong một trình diễn, chị mời khán giả hôn mình. Trong một trình diễn khác, chị giải phóng mình khỏi những miếng độn mông mà chị đã sử dụng trong nhiều năm nhằm tạo hình ảnh tròn trịa hơn cho cơ thể, và biến mình thành một con chim lông vũ xanh biếc. Đây là những vật lộn của một người phụ nữ để được sống với nhu cầu tình cảm của mình, được thống nhất với cơ thể mình. Các hành động của chị mang tính nữ quyền: người phụ nữ trở nên tự tin, dũng cảm và tìm cách thoát khỏi vai trò nô lệ mà họ đã tự đặt mình vào.

 Con chim xanh, trình diễn của Lại Thị Diệu Hà, 2010.

Diệu Hà có những tương đồng thú vị với Patty Chang, một nghệ sĩ video và trình diễn người Mỹ gốc châu Á. Trong một video, Chang hôn hình của mình trên mặt nước, hình ảnh video được dựng ngược 90 độ, tạo cảm giác chị đang hôn và uống hình của mình trong gương. Ở video Lươn, chị mang váy đen ngắn và áo sơ mi chật, cài kín cổ. Bên trong áo chị là những con lươn sống (mà chỉ tới cuối video người xem mới nhận biết được). Khi chúng bắt đầu trườn, áo chị ướt dần, chị thở mạnh, giật mình, oằn người, rên khẽ, và khuôn mặt chị thay đổi giữa các trạng thái bị nhột, sợ hãi, bị kích thích, ghê tởm, chống cự – dường như chị vừa bị tra tấn vừa có khoái cảm. Chang dùng cơ thể mình để kết nối với những trạng thái tâm lý, và giống như ở Diệu Hà, đem lại những tình huống gây khó xử cho người xem và bắt họ phải suy nghĩ. Tuy nhiên, Diệu Hà có tính kể chuyện cao hơn, do đó đơn giản hơn và không được độ mâu thuẫn và phức tạp như Chang.

Những tiếp cận khác

Để đại diện cho khía cạnh này, tôi muốn nhắc tới ba nghệ sĩ và dự án. Họ có cùng chung một điểm: đưa ra một điều bất ngờ, một điểm mới, có thể thông qua chất liệu làm việc, như trong trường hợp Lionel Déscostes và Mamoru Okuno, hay thông qua việc định nghĩa vai trò của bản thân trong cộng đồng, như qua dự án của Ga 0 và Click 9.
Đã có nhiều nghệ sĩ đương đại trong và ngoài nước dùng chất liệu sơn mài cho công việc của mình, nhưng Lionel Descostes, nghệ sĩ người Pháp sống lâu năm tại Việt Nam, là người đầu tiên đưa kỹ thuật thêu Việt Nam vào nghệ thuật đương đại. Anh đã có một quá trình làm việc tám năm vất vả và đơn độc trong studio, với các trợ lý câm và khiếm thính, trước khi giới thiệu thành quả với công chúng (lần gần đây tại E’space vào đầu năm 2011). Những tác phẩm thêu có phong cách khác nhau, nhưng đều làm ta bất ngờ vì chúng đi ngược lại với những hình dung về thêu truyền thống. Sự phối mầu hài hòa và những đường nét uyển chuyển dễ làm cho ta quên đi khối lượng công việc đồ sộ và buồn chán ẩn đằng sau. Descostes đã chứng tỏ rằng để đương đại ta không nhất thiết phải làm sắp đặt hay trình diễn – ta có thể cách tân bằng những vật liệu và kỹ thuật cổ xưa nhất.

 Television (detail), Lionel Descostes, 2008. (Nguồn: www.hanoigrapevine.com)

Dự án “Vẽ graffiti trên tường hẻm” do không gian nghệ thuật Ga O và nhóm Click 9 tiến hành trong ba tuần, làm đúng việc mà tên dự án nêu lên. Nhưng khác với các động tác đem nghệ thuật tới cộng đồng khác, nó không chỉ đặt một cái tượng, hay vẽ một bức tranh ở chỗ công cộng rồi rút lui. Điều quan trọng hơn là trong quá trình làm việc dự án đã thu hút được sự quan tâm của người dân xung quanh, đưa họ vào trong quá trình hình thành kết quả. Không được lập kế hoạch trước, nhưng nội dung của bức graffiti cuối cùng đã gắn kết chặt chẽ với người dân trong hẻm bằng những chân dung của họ. Qua cọ sát, đối thoại với dự án, quá trình thay đổi nhận thức về nghệ thuật của người dân được khởi động. Với nghệ sĩ, đây là một cơ hội để tư duy về không gian dân chủ của nghệ thuật, về vai trò liên kết và chỗ đứng của bản thân trong cộng đồng. Đây là một ví dụ tốt minh chứng rằng chỉ với một ngân sách không lớn ta có thể đạt được kết quả hữu ích hơn rất nhiều các dự án nghệ thuật cộng đồng mang tính áp đặt khác.

 Vẽ graffiti lên tường hẻm, Ga O và Click 9, 2011.

Một trong những tác phẩm thú vị nhất của 2011 với tôi là Etudes cho cuộc sống thường ngày – Số 11 của nghệ sĩ âm thanh Nhật Mamoru Okuno trong triển lãm NOWHERE. Khi học một nhạc cụ, các etude là các bài tập nhỏ giúp ta tập luyện để nắm vững một kỹ thuật nhất định. Hướng sự chú ý của chúng ta tới những âm thanh thường ngày, các etude của Mamoru giúp ta tập luyện cái nhìn trong cuộc sống, một thái độ sống. Bài tập số 11 là những mắc áo thép treo trên dây, chúng phát ra những tiếng kêu leng keng khi có gió, kéo ta quay lại với giây phút hiện tại, và ta cảm thấy sự dễ chịu của những lúc tâm trí ngừng không nhảy nhót như một con khỉ nữa.

Bài tập cho cuộc sống thường ngày – Số 11 (Mắc áo và quạt), Mamoru Okuno, 2011.

Các bài tập khác của anh cũng rất thú vị. Số 36 ghi lại âm thanh của nước được tưới lên trên đất khô của những chậu rau anh trồng (và kết quả không chỉ là một tác phẩm âm thanh, mà còn là số rau anh thu hoạch được). Số 12 cho người xem nghe tiếng giấy bóng nhôm gói thức ăn cựa mình sau khi chúng bị nén lại. Mamoru đã thành công trong việc nạp những giá trị thẩm mỹ vào những đồ vật rẻ tiền hàng ngày.

Chủ nghĩa bảo thủ mới

Gây chú ý nhất trong năm 2011 chắc chắn là hai nghệ sĩ Hải Phòng Vũ Ngọc Vĩnh và Mai Duy Minh. Triển lãm Không thời gian của hai nghệ sĩ (cùng Bùi Duy Khánh) được coi là quan trọng, thậm chí là cột mốc của mỹ thuật Việt Nam. Một trong hai tác phẩm chủ đạo của Vũ Ngọc Vĩnh trong triển lãm này là Trở về từ đám tang. Như nhiều người đã nhận xét, nó gần với chủ nghĩa hiện thực của châu Âu, đặc biệt là Coubert trong Đám tang (1850) và Những người kéo thuyền trên sông Volga của Ilya Repin (1870). Hai tác phẩm lịch sử kia mang tính cách mạng bởi chúng lần đầu tiên lấy tầng lớp bình dân làm chủ thể cho hội họa – một cú sốc với giới thượng lưu đô thị và nghệ sĩ lúc bấy giờ. Tuy nhiên, ở Việt Nam, vào thời điểm này, Trở về từ đám tang mang sự quen mắt của một ngôn ngữ thị giác đã mòn. Thay những cờ phướn kia bởi những lá cờ đỏ, thay những nhạc cụ bởi cuốc xẻng, xe đòn đám ma bởi một chiếc xe công nông, và ta sẽ có Đào kênh thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp. Nếu ta mặc đồ lính cho những nhân vật trong bức Hy vọng, ta sẽ có Bộ đội lau súng trong giờ nghỉ giải lao. Nếu ngoài ra họ còn cầm thêm mấy tờ giấy trắng, ta sẽ có Đọc thư hậu phương trước giờ nổ súng. Vân vân.

 Hy vọng, Vũ Ngọc Vĩnh, 2011.

Tác phẩm siêu thực chính của Mai Duy Minh, Miền đất hứa, được vẽ trong gần ba năm, với kỹ thuật sơn dầu của các bậc thầy cổ điển, đề cập tới nỗi ám ảnh cơm áo gạo tiền, dưới góc độ tâm lý nam giới: một con người gục ngã trong một thế giới hoang tàn, trước hai bàn tay gân guốc, cầm bát và đũa. Chúng ta lưu ý sự thể hiện khác nhau của những vật lộn nội tâm trong trường hợp này và trường hợp của hai nghệ sĩ nữ bên trên. Tuy nhiên, to lớn hơn (bức tranh có kích thước 540 x 200 cm) không có nghĩa là mãnh liệt hơn. “Miền đất hứa” có thể làm ta thán phục nhưng không xúc động, không làm ta phải suy nghĩ tiếp. Tất cả đã được bày ra, không có câu hỏi, chỉ có những câu trả lời.

 Miền đất hứa, Mai Duy Minh, 2011.

Rõ ràng là Mai Duy Minh và Vũ Ngọc Vĩnh đã chọn một vị trí bảo thủ, và sự lựa chọn này hoàn toàn có ý thức. Vậy vì sao công chúng lại hưởng ứng một cách nồng nhiệt như vậy? Lý do có thể là, tại thời điểm 2011, những hình thức “mới” – sắp đặt và trình diễn – không còn “nóng” nữa. Người xem bắt đầu dãn ra, và mạnh dạn thể hiện sự ưa thích những thể loại tranh này mà không sợ bị coi là không cấp tiến. Trong khung cảnh rất nhiều sắp đặt và trình diễn được làm cẩu thả, dễ dãi và hình thức, đi kèm với các tuyên ngôn của nghệ sĩ (artist statement) không ăn nhập, rối ren, đau đầu và sai chính tả thì dường như công chúng mong muốn nhìn thấy sự thể hiện của kỹ thuật, tay nghề, và công sức. Nếu điều này đúng thì trong mấy năm tới chúng ta sẽ tiếp tục thấy mối quan tâm tới sắp đặt và trình diễn giảm sút, và chứng kiến sự lớn mạnh của chủ nghĩa bảo thủ mới này.
-------------
Nguồn TT&VH

Chủ Nhật, 15 tháng 7, 2012

Bài viết được đăng trên trang "Soi" từ ngày 10/6/2010, nhưng nay đọc lại vẫn nguyên tính thời sự và là "một tiếng nói cảnh báo về sự trống rỗng, sự vô cảm và sự ảo tưởng" của nhiều họa sĩ trẻ. MTHP xin đăng lại bài viết này. Tác giả bài viết không đề tên thật lên trang nguồn, chỉ ký bút là SOI HN. Tên bài viết này cũng đã được thay đổi.

Triển lãm Trẻ thường niên do Hội Mỹ thuật tổ chức đã khai mạc chiều 9/6/2010 với sự tham gia của 40 họa sỹ tại nhà triển lãm 16 Ngô Quyền, Hà Nội, với chủ đề: "Đô thị hóa ngoại thành"
Sự tham gia hùng hậu của các tác giả trẻ đều là hội viên hội Mỹ thuật, ai mà dám nghi ngờ tính chuyên nghiệp và tính đại diện của nó nào. Thế mà vô tình ghé qua khi các họa sỹ treo tranh, tôi không tin lắm vào cảm giác của mình, đành phải quay lại “tái kiểm chứng” trước giờ khai mạc, tránh sự phân tâm của màn chào hỏi, bắt tay. Kết quả là: Vẫn một cảm giác trống rỗng một cách nặng nề.
Không phải sự trống rỗng mang lại từ thông điệp nghệ thuật, mà sự trống rỗng của sự thiếu đi khát vọng. Điều này không phải vì bức tranh này kém, bức tranh kia dở. Điệu này toát ra từ tinh thần của 40 bức tranh, tượng, sắp đặt đặt cạnh nhau. Nó mang tới một cảm giác đầy liên tưởng đến chứng bệnh ”đột biến gien Lamin A…” hay chứng già trước tuổi, rồi lãng mạn hơn là những bong bóng xà phòng bay lơ lửng lấp lánh ánh cầu vồng và biến mất trong nháy mắt.
Tất cả những cảm giác trên lẫn lộn trong lúc xem tranh, bao trùm bởi một nỗi lo lắng mơ hồ, khiến cho tôi có tâm trạng bồn chồn phải lùi lại và không dám ngắm kĩ một bức tranh cụ thể nào, đến mức cứ thế mỗi lúc mỗi lùi ra xa hơn, dạt vào cả một góc. Từ góc nhìn đó, tất cả các bức tranh bỗng liên kết lại với nhau thành một tiếng nói cảnh báo về sự trống rỗng, sự vô cảm và sự ảo tưởng. Chả tìm thấy mấy sự ngây thơ, cái khát vọng chân thành của tuổi trẻ.
Mà đúng thôi, làm sao có ngây thơ và khát vọng được, khi một chủ đề đao to búa lớn mang tính thời đại một cách cơ hội đến nhường kia, những bức tranh mang đến cũng được cố gẩy vào một chút dính dấp nhằm minh họa cho chủ đề cơ hội ấy. Cuối cùng vẫn chỉ là cơn tìm kiếm hình thức nằm ở bề mặt. Nó cảnh báo một lớp họa sỹ trẻ đang thực sự bối rối trước thừa mứa thông tin nhưng thiếu năng lực tiếp cận, trước đòi đòi hỏi phải cách tân, cải cách liên tục của “cái chủ nghĩa hiện đại” đang biến thành một thứ hình thức lập lờ.
Trong khi đó, một hiện thực ngồn ngộn của cả một lớp nông dân đang đổi thay để hòa nhập với làn sóng đô thị đang phát triển vội vàng với bao hệ lụy: đớn đau, tụt hậu, vênh váo, hãnh tiến. Sự bơ vơ của đám nông dân mất đất, sự thèm khát điên dại của chủ nghĩa tiêu dùng mang đặc tính tiểu nông. Sự tiếc nuối cuộc sống êm đềm đã mất…v v. Tất cả những cái đó, ta thấy gì qua triển lãm này nào?


Chỉ là một cổng nhà cũ kĩ với mái ngói rêu phong với bút pháp đã bị dùng mòn mỏi của hội họa Pháp đầu thế kỉ 20 được gán thêm hai chữ “bán nhà” lên bức tường như một vết bẩn chả ăn nhập. Nó như được viết vào vội vàng với sự tắc trách trước khi mang đến triển lãm nhằm mục đích chứng minh cho hội đồng duyệt là tôi đang đi đúng đề tài.




Một góc làng quê yên bình bằng sơn mài nhang nhác như tranh của các vị tiền bối cách đây nửa thế kỉ như Văn Bình, Trần Đình Thọ…có thể được cho là một chút “thương nhớ đồng quê” đã mất. Thế nhưng nó được vẽ với một bút pháp vô hồn. Cũng chuối, cũng tre, cũng cổng, cũng vàng son lộng lẫy, nhưng vô hồn bởi sự điêu luyện đến khô cứng. Bức tranh nhiều tính mỹ nghệ, làm ta liên tưởng tới những bức tranh sơn mài mà các hội nghị vẫn tặng nhau. 


Để phản ảnh công nghiệp hóa đang chiếm lấy làng quê ư. Vâng có ngay: vẫn hình ảnh những khối máy móc đồ sộ và vài hình anh công nhân. Nó khá điển hình cho cả một giai đoạn của một lớp họa sỹ thời “hiện thực xã hội chủ nghĩa” những năm 70, 80 khi khôn khéo kết hợp phong cách của họa sỹ Pháp chuyên vẽ công nhân Fernand Leger với hình ảnh giai cấp công nhân Việt Nam hăng say xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kiểu cách này đã từng tạo thành một lối mòn của một lớp sinh viên trường Mỹ thuật. Nhiều khi lí do rất đơn giản: chính ông thầy nghĩ ra trò kết hợp khôn khéo này đang chấm bài trên cương vị giáo sư. 


 Cũng như vậy, một bức tranh khác, rất hợp với tiêu chí của Hội trong triển lãm này: những người phụ nữ nông dân mất ruộng đang đợi việc ở chợ lao động. Chủ đề đó được chuyển thể một cách sống sượng từ bút pháp của những bức tranh đã được lớp sinh viên đua nhau vẽ từ cách đây hai, ba mươi năm với hình ảnh những cô nông dân vạm vỡ, đang hăng say ra đồng trong ngày hội mùa, rộn ràng cờ đỏ bay phấp phới. 


Rồi một bức khác, vẫn gam mầu ghi xám, nhấm nháy một chút màu tươi và vài cái loa phin đeo ở hông cũng đủ đương đại và là tấm vé hợp pháp cho việc tụ bạ vào cuộc ra mắt. Tôi thực sự không ngờ rằng cái gọi là truyền thống đó của trường Mỹ thuật nó lại sống dai thế, nó bám chặt đến tận bây giờ cho tới các lớp họa sỹ trẻ chắc mới ra trường không lâu. Thực sự tiếc, nếu các họa sỹ trẻ ý thức được điều này mà biến những bức tranh đó như những sự giễu nhại thì vấn đề đã khác. Những bức tranh này thực sự đờ đẫn chứ không phải muốn nói về sự đờ đẫn. 


Rồi, lại khá nhiều đấy một số đông họa sĩ trẻ có vẻ hợp thời mà vẫn đúng phóc với tiêu chí, định hướng cũng “hợp thời” của Hội Mỹ thuật trong chiến lược tư duy “quản lý” mới. Điều này được cổ động ngay trong lời giới thiệu của nhà phê bình Lê Quốc Bảo: “… Không ít tác giả đã ‘Chơi’ hết mình trong nhiều hình thức tạo hình táo bạo và đúng với tiềm năng sở trường và hạn chế của thế hệ trẻ”.
Lạ (chữ “chơi” trong nguyên văn được viết hoa, và tất nhiên tiếp theo vẫn kín kẽ, một sự kín kẽ với phẩm chất của quan chức văn hóa). Sự hợp thời là gì: là sắp đặt, là trình diễn, là PopArt, là trừu tượng…v v. Tóm lại dùng hình thức ấy để bộc lộ cái gì thì không quan trọng. Họ có vẻ rất hồ hởi khi chỉ cần dùng hình thức tân tiến ấy. Với họ, hình như chỉ cần đặt tên cho thể loại thì đã là đương đại rồi. Vác hình thức những tấm bia mộ với vành vải ở lễ tang với những lời giải thích lộn xộn với mục đích hình như chỉ muốn gây shock.


Hay vài hình vẽ nguệch ngoạc vội vàng và được viết đè lên tên của vài hãng thời trang như một minh chứng đương đại của dòng nghệ thuật Pop.

 

Một cuộc đón dâu đa chủng tộc minh chứng cho sự hòa nhập quốc tế, trong đó có cái nón như một sự minh chứng cho việc hội nhập và sự hội nhập đó kèm thêm sự ô nhiễm không khí. Rất nôm na. Và cách tạo hình thì chả hơn gì một tranh biếm họa vẽ vội cho một tờ báo lá cải.


Thế rồi một sắp đặt định nói về sự bùng nổ thái quá của đô thị với những căn nhà trọc trời bằng ý tứ rằng trời đất đang lẫn lộn và có cái thang (hình như nói về sự phải trèo). Thế nhưng hiệu quả gây tác động thị giác thì rất kém. Nhìn đi nhìn lại, chả thấy đô thị này có vấn đề gì.

Lại phải dùng lời kết trong lời giới thiệu về triển lãm của ông Lê Quốc Bảo để kết thúc bài viết này: “Dám phủ định và tự khẳng định mình – đó là quy luật của muôn đời của nghệ thuật. Tất nhiên cái đẹp ĐÍCH THỰC trong nghệ thuật luôn ở phía trước chúng ta nhất là đối với thế hệ họa sỹ trẻ”.
Tôi tự nhấn mạnh từ đích thực của ông Bảo vì chợt nghĩ rằng: Không thể có được một tương lai, một phía trước khi hiện tại chúng ta dùng sự dối trá, và nghệ thuật ĐÍCH THỰC không có sự DỐI TRÁ.
Thế nhưng các họa sỹ trẻ có lỗi gì không. Tôi nghĩ là không. Họ sẽ tìm được nghệ thuật của chính mình bởi một ngày gần đây thôi, họ sẽ tự hiểu là họ đã được sản sinh ra trong một môi trường thích nói dối. Và chắc chắn, họ sẽ không thể chấp nhận điều đó. Và chỉ cần hiểu ra như vậy, nghệ thuật sẽ chắp cánh cho họ.
----------
Nguồn: "Soi"



Tuần vừa rồi, tôi chủ động liên lạc lại với một người bạn - người anh đã bốn năm, năm năm không gặp cho dù vẫn ở cùng thành phố. Chúng tôi trao đổi về công việc, về cái gọi là midlife crisis, vì tôi nhớ khi anh ở vào giai đoạn ấy, anh đã hẹn cafe nói chuyện với tôi, cho dù tôi kém anh hơn chục tuổi, và khi cần có người nói chuyện tôi lại nhớ tới anh. Sau cuộc nói chuyện ấy, tôi cảm thấy tinh

Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2012



Nhà văn Việt Nam duy nhất cho tới giờ mà đọc xong tác phẩm tôi mong muốn được gặp mặt đó là Bùi Ngọc Tấn. Tôi có thể  khâm phục, kính trọng nhiều nhà văn khác, nhưng chỉ có ông là đọc văn mà tôi mến người. Trải qua đau khổ kiệt cùng, văn ông vẫn toát lên một sự bao dung, đôn hậu. Ông có thể viết về cái xấu, cái ác, nhưng rốt lại đọc  ông xong người ta không thấy chán ghét, khinh khi, căm thù,

Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2012



Chủ nhật vừa rồi là lần thứ hai Alpha và Pi được đi sở thú.
Lần thứ nhất cách đây hai năm rưỡi, khi ấy các bạn còn trẻ hơn bây giờ nhiều,
trẻ hơn nhưng kém dẻo dai hơn nên đi một tí đã la toáng mỏi chân và đòi bế. Làm
sao mà bế nổi hai cái thùng sữa đi vòng quanh sở thú, thế nên xem được vài con
thì cả nhà rút sớm. Lần này, tuy hai bạn tuổi tác cao hơn xưa, nhưng khả năng
đi bộ rất tốt, nên dẫu

Thứ Sáu, 6 tháng 7, 2012

Triển lãm Mỹ thuật "Sắc màu trung du"của họa sĩ Đỗ Dũng do hội Mỹ thuật Việt Nam, hội LH VHNT Hải Phòng, hội LH VHNT Phú Thọ và TT Triển lãm & Mỹ thuật Hải Phòng tổ chức.
Triển lãm khai mạc vào 9h30' ngày 6/7/2012 tại TT Triển lãm & Mỹ thuật Hải Phòng (Số 1 Nguyễn Đức Cảnh, Q. Lê Chân). Triển lãm mở cửa đến hết ngày 13/7/2012

Họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng
Bút danh: Đỗ Dũng
  • Sinh năm 1960 tại Phú Thọ 
  • Tốt nghiệp trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp năm 1989 
  • Hội viên hội Mỹ thuật Việt Nam 
  • Hội viên hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam 
  • Hội viên hội nhà báo Việt Nam 
  • Chủ tịch hội LH VHNT Phú Thọ


Một số hình ảnh trong buổi khai mạc triển lãm (Ảnh: Tất Hanh)

     
    Nét xưa (150cm x 150cm)

    Một chiều hè (140cm x 120cm)

    Hát dân ca (160cm x 130cm)
    Tắm biển

     Dấu thời gian (150cm x 150cm)

    Chợ nổi


    "Thế là tôi đến
    Pa-ri, trong túi không một đồng frăng, trong mồm không một câu tiếng Pháp. Ở
    Pa-ri, một đêm tôi dạo chơi trên bờ sông Xen. Một đám người đang đi lại phía
    tôi, ca hát rất vui nhộn. Tay họ cầm những con dao bầu, dao nhọn, những cái
    kéo, những cái dùi, tất cả sáng loáng, đánh vào nhau xủng xoảng. Nhìn họ, tôi
    đinh ninh đấy là những nhà phê bình văn học. Mãi tới khi nói chuyện với

    Thứ Năm, 5 tháng 7, 2012

    Quang Việt

    Khi Picasso qua đời, Bùi Xuân Phái đã viết trong cuốn sổ “nhật ký nghệ thuật” của ông:
    “Picasso đã sáng tác khoảng 25.000 bức tranh, để lại gia tài trị giá 5 tỷ phrăng. Đó là một cái gương lớn về lao động nghệ thuật. Chúng ta đã làm được bao nhiêu?”
    Cũng trong cuốn sổ nhật ký ấy, Bùi Xuân Phái nêu cao một “khẩu hiệu”:
    “Những họa sĩ lớn làm việc nhiều vô kể. Không thể có một họa sĩ làm việc lơ mơ mà lại có tài năng lớn bao giờ cả”.
    Bùi Xuân Phái còn viết:
    “Một đời người nghệ sĩ không lấy gì làm dài lắm, phần lớn không thọ lắm thì phải [Toulouse - Lautrec, Modigliani]. ở Việt Nam đời anh nghệ sĩ họa không dài, phần lớn thì giờ anh ta phải làm thì than ôi không lấy gì làm đáng kể. Nó không dính dáng gì đến công việc sáng tác tác phẩm. Phần đông họa sĩ Việt Nam không có nhiều tác phẩm để lại [Tô Ngọc Vân chẳng hạn]. Đó là một điều đáng buồn!”.
    Tuy nhiên: “Phải nhận trong nghệ thuật - Bùi Xuân Phái viết tiếp - có nhiều cái khó, rất khó. Khi mà thấy nghệ thuật dễ dãi thì chính là anh đang đi trên con đường mòn, đang làm lại một cái gì quen thuộc, cũ rích, kém suy nghĩ, tìm tòi, nghiên cứu...
    Phải luôn luôn nâng cao mình lên, phải có nhiều vốn. Phải đáp ứng được yêu cầu cao của xã hội. Không phải như làm cái bánh phục vụ người ăn xong rồi tiêu đi mà người ăn cũng không cần biết là ai làm bánh. Còn nghệ thuật thì trách nhiệm rõ hơn. Không thể thế nào xong thôi! Không thể chỉ đạt kết quả là lấy được... tiền!
    Không. Phải đặt tài năng của anh vào đó. Nếu không có tài thì đừng háo danh háo lợi. Phải trân trọng với công việc anh làm, dù là nhỏ bé.”
    Một đoạn khác, Bùi Xuân Phái viết:
    “Phải trân trọng với việc anh làm dù là nhỏ bé... thí dụ như vẽ một cái vignette chẳng hạn. Lương tâm nghề nghiệp là ở chỗ đó. Đừng làm ẩu, làm dối. Đôi khi còn đem cái lạ, cái ‘mới’ dễ dãi ra để trộ đời! Làm như mình là tài năng, là người đi đầu về nghệ thuật mới! Nghệ thuật hiện đại!
    Không, ông bạn hỡi, ông không trộ nổi thời đại đâu! Biết bao nhiêu người am hiểu nghệ thuật mà ít người biết tới. Không phải là những ‘ông’ đi đặt tranh, những ‘ông’ duyệt tranh, những ‘ông’ trả tiền đều là những người am hiểu nghệ thuật! Có thể có một hai người và đó là một cái may mắn cho người nghệ sĩ thật sự.
    Xưa nay như ta thấy, những nghệ sĩ giả, sống lại lắm tiền hơn những nghệ sĩ thực! Đó là một điều mỉa mai!
    Người nghệ sĩ sống có lý tưởng của họ. Không phải họ vẽ là chỉ vì đồng tiền. Đừng ai nhầm là họ cũng vì tiền như ai, chẳng qua là ‘kém tài’ nên phải nghèo! Không, chính họ hơn những kẻ vì tiền ở chỗ họ nghèo. Họ không bán nổi tranh. Kẻ có tiền chê tranh họ xấu và họ mỉm cười trước cuộc sống buôn bán. Họ hiểu rằng đã đi vào con đường nghệ thuật thì phải thế nào rồi, thiếu thốn, nghèo túng... còn nhiều gian khổ sóng gió hơn thế nữa.
    Những con cháu, những người đời sau sẽ quý họ, sẽ nâng niu những tác phẩm họ để lại. Ngay trong thời đại họ còn sống, vẫn có một số người am hiểu, quý họ, bằng một thái độ kính trọng khi nhắc đến họ”...
    Một đoạn khác nữa:
    “Phải làm việc. Không thể ngụy biện bằng những lời nghe ‘có vẻ’ của những tay tưởng như tài năng quyết định tất cả. Mà thật sự ông có tài không chứ, vả lại những cái gì đi với tài năng nữa chứ. ít làm việc thì tài năng - thì cứ cho là ông bạn có tài đi nữa, sẽ cùn đi, và lúc bấy giờ ông vẽ kém hẳn đi. Ông muốn cầu cứu tài năng ư? Nó không đủ sức giúp ông nữa rồi!
    Phải làm việc mà làm việc liên tục. Chỉ có cách đó mới giữ được tài năng và phát triển nó lên. Không phải chỉ hiểu biết đơn thuần là làm được, biết mà vẫn không làm nổi đấy vì có rèn luyện gì đâu. Cứ ngắm cái ông thợ mộc giỏi kia, sao ông ấy bào dễ thế, tưởng chừng như mình cũng làm được. ấy thế thử đưa cái bào cho mình bào xem sao?
    Vấn đề nghệ thuật còn khó hơn nhiều. Chính vì thế vấn đề rèn luyện, vấn đề làm việc đòi hỏi rất cần thiết. Không thể coi thường được”...
    Về Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm nói: “Bùi Xuân Phái có phong cách, có bản lĩnh, không được ‘rộng’, nhưng cũng có thay đổi. Nếu cứ đòi hỏi nhiều cái khác nữa ở Phái thì không thành Phái được. Nhắc đến ‘phố cổ’, ‘chèo’ thì phải nhắc đến ai khác ngoài Bùi Xuân Phái?”...
    Bùi Xuân Phái vẽ nhiều vô kể phố cổ, phong cảnh (nông thôn, miền núi), biển, chân dung, tĩnh vật, các nhân vật sân khấu chèo. Tranh Bùi Xuân Phái chủ yếu là sơn dầu, bột màu, khuôn khổ thậm chí thường nhỏ hơn rất nhiều so với khổ tiêu chuẩn tối thiểu.
    Với tâm trạng nặng u hoài, Bùi Xuân Phái luôn luôn lấy quá khứ làm nguồn cảm hứng chủ đạo. Song, những bộ tranh minh họa của ông, đặc biệt minh họa cho tuần báo “Văn Nghệ”, có thể nói, chính là những ô cửa sổ mở vô cùng đẹp đẽ và tràn trề lạc quan nhìn ra cuộc sống thực tại.
    Với Nguyễn Sáng, như chính ông nói: “Vẽ là thở”. Nguyễn Sáng đã từng vẽ rất nhiều, vẽ tranh to, phác thảo bằng phấn, thậm chí hàng chục bức trên cùng một mặt nền, trên sàn nhà, có bức rất đẹp nhưng không thực hiện hết được.
    Trên thực tế, Nguyễn Sáng đã vượt qua cái eo hẹp của hoàn cảnh, của phương tiện, của số phận bằng một sự sáng suốt lạ thường.
    Giản lược giỏi bất cứ gì và không bị sa vào những vấn đề nan giải của kỹ thuật, nghệ thuật Nguyễn Sáng đã đạt tới những đỉnh cao của sự thanh thản, mà ở đó, ông đã hòa giải được một cách hoàn hảo cả hai truyền thống, hai tâm tính hội họa phương Đông và phương Tây.
    Các bộ tranh “Kiều”, “Gióng”, “Múa cổ” và đặc biệt “Con giống” đã đưa Nguyễn Tư Nghiêm trở thành nhà cách tân nghệ thuật số 1 của Việt Nam, đồng thời cũng đã đưa ông trở thành một trong những nghệ sĩ sáng tạo có sản lượng lớn nhất trong vòng 50 năm trở lại đây. 
    Một số danh họa và số lượng tác phẩm để lại:
    • Rembrandt 650 tranh sơn dầu, 300 khắc axít, 2.000 hình họa
    • Toulouse-Lautrec 737 sơn dầu, 275 thuốc nước, 4.790 hình họa, in đá và ký họa
    • Van Gogh: 817 sơn dầu
    • Rubens: 2.500
    • Corot: 4.000
    • Renoir: 6.000
    • Picasso: 13.500 tranh tấm (tableaux) và hình họa, 100.000 in đá và khắc, 34.000 minh họa, 300 điêu khắc và gốm.
    • Trần Văn Cẩn: 25 sơn dầu, 11 sơn mài, 17 lụa, 8 khắc gỗ, 6 tranh cổ động, 112 ký họa - nghiên cứu - phác thảo.
    -------------
    Theo: "Tạp chí Mỹ thuật" 

    Cùng chủ đề:

    Thứ Tư, 4 tháng 7, 2012

    Tối qua, hỏi Alpha và Pi tới giờ con thích những cuốn sách nào nhất. Các bạn liệt kê ra như sau:
    Alpha:

    - Tín đồ màu hồng (vì Alpha cũng là tín đồ màu hồng mà);
    - Phù thủy xứ Oz;
    - Bộ truyện Ếch Xanh;
    - 365 chuyện hằng đêm ông kể cháu nghe (cuốn dày cộp, đọc suốt mấy tháng mới xong);
    Pi:
    - Khu vườn hiếu kỳ;
    - Ông khổng lồ ích kỷ (cuốn này lâu rồi không đọc lại, nhưng Pi vẫn nhớ rành rọt);
    - Ai

    Thứ Ba, 3 tháng 7, 2012

















    Trên, là vài đoạn trích từ bài viết Người thơ thuần túy Nguyễn Du trong Văn tế thập loại chúng sinh của Đinh Hùng trong cuốn sách dưới đây:




    Như Huy

    Đối với không ít người Việt Nam, nghệ thuật trình diễn vẫn còn là một loại hình thực hành nghệ thuật vô cùng xa lạ. Nó mới chỉ “rụt rè” đan cài trong những hoạt động văn hóa khác hoặc “ẩn khuất” trong không gian tư gia của một vài nghệ sĩ. Vậy mà ở phương Tây, hình thức thực hành nghệ thuật này đã có trên nửa thế kỷ tồn tại và phát triển. Lịch sử của nó không chỉ phản ánh sự vận động của nghệ thuật đương đại Tây phương mà còn là một bản ghi trung thực của tâm thế con người Tây phương hiện đại.
    mythuathaiphong.blogspot.com
    Bởi các mô hình vô cùng đa dạng và tính chất phù du, cũng như bởi bản chất liên sản của nó, cái bản chất làm cho nó hiện diện ở khắp mọi thời kỳ của lịch sử nghệ thuật phương Tây, cho tới giờ, người ta vẫn rất khó minh định chính xác về điểm khởi đầu của nghệ thuật trình diễn. Một số người (như Attanasio Di Fellice chẳng hạn), thậm chí còn tìm ra dấu vết của các hình thái nghệ thuật trình diễn theo kiểu hiện đại trong các thực hành nghệ thuật từ thời Phục Hưng, ví dụ như (đặc biệt trong) một số trò đùa nghịch của Leonardo de Vinci, hoặc trong kỷ nguyên nghệ thuật Baroque, thông qua những hiệu ứng gây kịch tính sân khấu của một số họa sĩ như Bernini.
    Tuy nhiên, dường như những lý lẽ thuyết phục hơn cả là những lý lẽ định vị thời điểm ra đời của nghệ thuật trình diễn trong phạm vi thế kỷ 20. Cho tới nay, về việc này, có hai quan điểm chính.
    Quan điểm thứ nhất (ví dụ của Roselee Goldberg), mang đậm tính lịch sử, cho rằng nghệ thuật trình diễn ra đời thông qua các thực hành nghệ thuật của trào lưu vị lai (1909) và Dada (1916) hồi đầu thế kỷ XX, mà “Tuyên ngôn vị lai” (Futurist Manifesto) của nhà văn Ý Filippo Tomasso Marinetti đăng trên tờ Le Figaro vào 20 tháng Hai năm 1909 tại Paris chính là phát biểu tường minh đầu tiên về nghệ thuật trình diễn, cũng như cuộc trình diễn đầu tiên chính là cuộc trình diễn của chính Marinetti, tổ chức tại Trieste, một thành phố nhỏ nằm sát biên giới Áo-Ý, vào 12 tháng Giêng 1910.
    Tuy nhiên, theo một số quan điểm khác mang đậm tính ý niệm hơn (ví dụ như của Kristine Stiles), khía cạnh trình diễn chỉ là khía cạnh thứ yếu của các nghệ sĩ vị lai và Dada mà thôi, do đó, việc coi các nghệ sĩ vị lai và Dada như những cha đẻ thực sự của nghệ thuật trình diễn là chưa thuyết phục.

    Khi trình diễn trở thành trình diễn
    Theo Kristine Stiles, chính nhóm nghệ thuật có tên là Gutai (cụ thể) do Jirò Yoshihara (1904 – 1972) thành lập tại Nhật Bản 1954, bao gồm một số thành viên từ các lĩnh vực xã hội khác nhau như nghệ sĩ thị giác, luật sư, nhà văn, và các nhà kinh tế, mới là nhóm có những phát biểu tường minh và chân xác đầu tiên về nghệ thuật trình diễn thông qua bản “Tuyên ngôn cụ thể” (Gutai Manifesto) cũng như qua các số tạp chí “cụ thể” (từ 1955-1965) của họ. Không những thế, theo bà, việc nhóm này sử dụng thân thể trong vai trò là chất liệu, tạo phẩm cho các màn trình diễn đã thể hiện rõ quan điểm muốn nhấn mạnh vào tiến trình thực hiện của tác phẩm chứ không phải vào bản thân tác phẩm sau cuối, cũng như việc các vật liệu thiên nhiên và các đồ dùng hằng ngày được các nghệ sĩ “cụ thể” đưa vào vào văn cảnh nghệ thuật cũng đã báo trước những khía cạnh của nghệ thuật sắp đặt, nghệ thuật trình diễn, trào lưu nghệ thuật nghèo khó (Arte Povera), nghệ thuật ngẫu biến (Fluxus Art) cũng như nghệ thuật đột biến (Happening Art) tại châu Âu và Mỹ sau này.
    Sự phát triển của nghệ thuật trình diễn tại Mỹ và phương Tây có liên quan chặt chẽ tới hai định chế quan trọng, một ở châu Âu, là trường Bauhaus, khai giảng năm 1919, và một ở Mỹ, trường Hắc Sơn (Black Mountain College), khai giảng vào năm 1933.

    mythuathaiphong.blogspot.com
    Robert Rauschenberg và bức bạch họa (whitpainting)

    Một trong những cuộc trình diễn quan trọng tại trường Hắc Sơn và đã trở thành hình mẫu cho vô số các cuộc trình diễn khác trong hai thập niên 1950, 1960, diễn ra vào năm 1952. Trong cuộc trình diễn đó, công chúng được đề nghị ngồi thành 4 tam giác trong một khu vực hình vuông, để tạo thành hai lối đi cắt nhau. Mỗi người được phát một chiếc cốc trắng. Những bức bạch họa (White Painting) của Robert Rauschenberg, lúc này vẫn đang chỉ là một sinh viên dự thính của trường, được treo trên cao. Đứng trên một chiếc thang xây dựng, mặc một bộ comple đen, John Cage đọc to bài viết “Mối quan hệ của âm nhạc và Thiền” và những trích đoạn từ tác phẩm của Meister Eckhart. Sau đó, ông trình diễn một sáng tác âm nhạc bằng một radio. Cùng lúc ấy, David Tudor chơi nhạc trên một chiếc piano “biến thái” (prepared piano – tức piano với các dây đàn được gắn bởi các vật liệu khác, như kẹp quần áo, dây điện, v.v., với mục đích thay đổi âm thanh gốc của đàn)… Cứ thế, với sự xuất hiện đồng thời ngày càng nhiều các hành vi kỳ lạ khác của Rauschenberg, Jay Watt, Charles Olsen và Mary Caroline, Richard và Merce Cunningham, cuộc trình diễn đã dần đạt tới cao trào của nó là một bầu không khí vô cùng hỗn loạn, vô mục đích và làm cho những người tham dự hoàn toàn “không biết trước được điều gì sẽ diễn ra sau mỗi hành vi” – như chính lời Jonh Cage xác nhận sau này.
    mythuathaiphong.blogspot.com
    Trường thiết kế Bauhaus (Đức)

    Tại trường Bauhaus, lần đầu tiên một lý thuyết về nghệ thuật trình diễn đã được giới thiệu chính thức bởi Oskar Schlemmer, một họa sĩ và điêu khắc gia gốc Stuttgart. Trong lý thuyết ấy, Schlemmer cho rằng hội họa và điêu khắc thuộc hệ thống Appollo (vị thần Hy Lạp thiên về trí tuệ), còn các dạng nghệ thuật trình diễn, biểu diễn thuộc hệ thống Dionysus, (vị thần Hy Lạp thiên về bản năng, cảm xúc). Schlemmer cho rằng hội họa - công cụ để mô tả không gian hai chiều - thuộc khu vực lý thuyết về không gian, trong khi màn trình diễn trong không gian thực, không gian “trải nghiệm”, lại cung cấp những “thực hành” để bổ sung cho chính khu vực lý thuyết về không gian của hội họa.
    mythuathaiphong.blogspot.com

    Trường Hắc Sơn, một ngôi trường nhỏ nẳm giữa những ngọn núi và thung lũng thuộc thị trấn Hắc Sơn của nước Mỹ, đã chính là một địa điểm quan trọng cho các thực hành mang tính thử nghiệm về nghệ thuật trình diễn tại Mỹ thời điểm sau chiến tranh thế giới thứ hai. Trong số các giáo viên của trường Hắc Sơn, có một số người tới đây từ trường Bauhaus, như Joseph và Anni Albers, trước khi trường này bị Đảng Quốc xã đóng cửa. Chính những nhân vật này đã có công tạo nên giáo trình liên nguyên tắc cho trường Hắc Sơn theo tinh thần Bauhaus: “Điều quan trọng của nghệ thuật là NHƯ THẾ NÀO chứ không phải là CÁI GÌ”.
    Ngay chính tại trường Hắc Sơn, Xanti Schawinsky, cựu giáo viên của Bauhaus, đã xây dựng một giáo trình sân khấu, nới rộng những thử nghiệm trước kia của trường Bauhaus. Nói về giáo trình của mình, Xanti Schawinsky khẳng định “giáo trình này hoàn toàn không có dự định là những bài tập của bất cứ hình thái nào thuộc sân khấu đương đại, hơn thế, đây là một nghiên cứu tổng hợp về những hiện tượng cơ bản của không gian, hình thái, màu sắc, ánh sáng, âm thanh, chuyển động, âm nhạc, thời gian, v.v.”.

    Những làn sóng đầu tiên
    Sau thời điểm xuất hiện của trường Hắc Sơn, có hai trào lưu quan trọng khác đã xuất hiện và - không hề quá lời chút nào – làm thay đổi hẳn bộ mặt nghệ thuật tạo hình thế kỷ 20.
    Trào lưu thứ nhất mang tên “Nghệ thuật đột biến” (Happening Art) tại Mỹ, trào lưu thứ hai mang tên “Nghệ thuật ngẫu biến” (Fluxus Art) tại châu Âu. Cả hai trào lưu này cùng đều được hình thành trong khoảng thời gian cuối thập kỷ 50 và đầu thập kỷ 60.
    Thuật ngữ “đột biến” được phát sinh từ loạt trình diễn mang tên “18 đột biến trong sáu phần” (18 Happenings in Six Parts) của nghệ sĩ Mỹ Allan Kaprow, diễn ra tại Gallery Neuben, New York vào năm 1959. Quan tâm tới câu hỏi về giới hạn của các vật thể nghệ thuật, những biến cố cũng như hành vi đời thường, nghệ thuật đột biến đã thiết tạo nên một định nghĩa thị giác về khoảng hẹp nhỏ nhoi giữa nghệ thuật và cuộc đời. Lý thuyết và thực hành gia quan trọng nhất của trào lưu nghệ thuật đột biến, Allan Kaprow, với mục đích mở ra những “giá trị và thái độ mới mẻ cho các thế hệ tương lai”, đã khuyến khích các nghệ sĩ trở nên “phản nghệ sĩ” (un-artist) để tìm cách chuyển hóa, tác động vào “đấu trường toàn cầu” (global arena) hơn là quanh quẩn trong việc sáng tạo ra những vật thể nhằm mục đích mua bán.
    Cùng thời điểm đó, tại châu Âu, một nhóm nghệ sĩ mang tên “Ngẫu biến” (Fluxus) đã được thành lập dưới sự tổ chức của một nghệ sĩ, kiến trúc sư và sử gia kiến trúc Mỹ gốc Litva, George Maciunas, người cũng đã tự chỉ định bản thân làm chủ tịch nhóm. Điểm chung của vài nghệ sĩ đầu tiên thuộc trào lưu “ngẫu biến” là: họ đều là học trò trong một khóa giảng nổi tiếng của John Cage (nhạc sĩ, một trong những nhân vật quan trọng nhất của nghệ thuật sau hiện đại, người cũng từng có thời gian tham gia giảng dạy và tổ chức cũng như trực tiếp trình diễn trong những cuộc trình diễn quan trọng tại trường Hắc Sơn) tại trường nghiên cứu xã hội New York.
    mythuathaiphong.blogspot.com
    George Maciunas đã tổ chức một loạt các cuộc trình diễn vào năm 1961 tại AG Gallery. Chính những cuộc trình diễn này đã là nền tảng cho Liên hoan Ngẫu biến (Fluxus Festival) đầu tiên vào năm 1962 tại châu Âu. Maciunas đã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong Liên hoan Ngẫu biến này khi tự mình đứng ra tổ chức các sự kiện, thiết kế các ấn phẩm, lý thuyết hóa căn tính xã hội chung và hệ tư tưởng chính trị của trào lưu ngẫu biến cũng như nỗ lực kêu gọi thành viên mới cho nhóm.
    Joseph Beuys, một trong những nhân vật tạo ảnh hưởng lớn cho các thế hệ nghệ sĩ Đức và châu Âu sau này cũng đã sắm vai trò rất quan trọng trong trào lưu ngẫu biến. Các thực hành ngẫu biến của Beuys, trong mắt các nghệ sĩ ngẫu biến - những người ưa thích các vở trình diễn đơn lẻ, giản tiện, ngắn, và thường xuyên gây hấn – luôn có vẻ phức tạp và nhiều ẩn dụ hơn cần thiết, đã được Beuys kiên quyết duy trì như căn tính nghệ thuật của ông. Một trong những vở trình diễn đặc sắc của Joseph Beuys mang tên “Làm thế nào giải nghĩa tranh cho một con thỏ chết”. Trong vở ngẫu biến đó, Joseph Beuys, với khuôn mặt được phủ đầy vàng lá, ngồi trên một chiếc ghế tựa giảng giải về nghệ thuật cho một con thỏ chết đang được ông bế trên tay.
    mythuathaiphong.blogspot.com
    Nghệ thuật ngẫu biến cũng liên quan tới một nhân vật được khá nhiều công chúng Việt Nam biết tới: Yoko Ono. Tuy vậy, người Việt đa phần chỉ biết một khía cạnh, tuy khá quan trọng, nhưng không hẳn có tính cốt yếu trong cuộc đời nghệ thuật của Yoko Ono: bà là vợ của một trong những ca sĩ, nhạc sĩ, thi sĩ quan trọng bậc nhất của nhạc Pop hiện đại – John Lennon. Thật sự ra, ngoài việc là vợ John Lennon (và cũng là nguồn cảm hứng quan trọng để John Lennon đưa những chiều kích xã hội vào những sáng tác nghệ thuật của ông), Yoko Ono có một cuộc đời hoạt động nghệ thuật vô cùng phong phú và gây rất nhiều tranh luận. Bà là một trong những nghệ sĩ - với triết lý nghệ thuật đề cao tính trừu tượng và sự tương tác của công chúng - được coi là một nguồn cảm hứng cho trào lưu ngẫu biến. Bản thân bà từng trình diễn cùng John Cage cũng như có mối quan hệ rất chặt chẽ và đã có triển lãm tại gallery của chính thủ lĩnh tinh thần của trào lưu ngẫu biến George Maciunas.

    Nói tới nghệ thuật trình diễn, người ta cũng khó có thể bỏ qua một hình thái trình diễn pha trộn giữa nghệ thuật múa hiện đại châu Âu và các yếu tố của kịch Noh truyền thống Nhật Bản, được gọi là Hắc Vũ (Butoh Dance), ra đời vào khoảng năm 1959. Không gian chính mà mọi thực hành Hắc Vũ luôn quán chiếu vào là khoảng ranh giới giữa sống và chết, giữa tỉnh và mê, là đáy sâu vô thức của con người, nơi lưu giữ những động thái, hành vi và dáng vẻ mà ý thức không thể làm chủ. Hai nhân vật được coi là đã sáng lập ra dạng nghệ thuật Hắc Vũ này là Tatsumi Hijikata và Kazuo Ono.
    ------------
    Theo Blog Như Huy

    Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2012

    Th. Lộc

    Ðược vẽ từ năm 1950, những bức tranh mèo này thuộc nhóm tác phẩm đầu tiên Lê Bá Ðảng bán được ở Paris, do đó được xem là những bức tranh khởi nghiệp, giúp ông "khởi sự vươn vai Phù đổng trong làng mỹ thuật thế giới"...

    mythuathaiphong.blogspot.com

    mythuathaiphong.blogspot.com

    Câu chuyện từng được nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường kể lại trong bài viết "Phố Con mèo câu cá": "Lê Bá Ðảng sang Pháp năm 1940, tự kiếm sống để học, đến năm 1950 thì bày tranh lần đầu ở Paris. Lúc này anh Ðảng đã lập gia đình với chị Myshu và đã có con trai đầu lòng.
    Ba người sống trong một căn phòng nhỏ xíu ở phố Montagne Ste Geneviève. Hoàn cảnh cùng quẫn đến nỗi hai người phải mang chung một đôi giày, không có tiền uống nước, cả tháng không ăn thịt, và con đau phải vào viện mà anh chị không có một xu trong túi. Ðường cùng lang thang đã đưa bước chân anh rẽ vào phố Con mèo câu cá. Thấy có nhiều người ra vào nơi một quán sách, tự nhiên anh Ðảng nảy ra sáng kiến vẽ tranh mèo để bán cho du khách. Không ngờ mặt hàng này rất được ưa chuộng, một tranh nhỏ với vài nét ký họa mực nho bán 1-2 quan, có tháng bán tới 160 tranh con mèo, nhờ đó gia đình anh có cái ăn hằng ngày. Có người đòi mua đứt mẫu hàng nhưng anh Ðảng không bán, anh đem in tranh mèo vào đĩa càng đắt hàng. Cứ thế kéo dài suốt năm năm, trước khi hoàn toàn sống được bằng tranh Lê Bá Ðảng...".
    Qua nửa thế kỷ miệt mài, bây giờ Lê Bá Ðảng trở thành một tên tuổi được ngưỡng mộ của nghệ thuật thế giới hiện đại. "Thế nhưng, điều đáng giá của cuộc sống là từ cái hẻm phố Con mèo câu cá lam lũ này đã ghi vào sổ điểm danh của nhân loại hai tên người là Yolland Foldes (tác giả tiểu thuyết Phố Con mèo câu cá) và Lê Bá Ðảng", nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường nhận định.
    Xem những đường nét ký họa mực nho theo lối thư pháp phương Ðông trên nền "không gian Lê Bá Ðảng" này, có thể nhận ra những con mèo, linh vật của năm Mão, rất tinh thông, rất hào sảng, ẩn đằng sau đó là bút lực rất uyên sâu của người họa sĩ tài danh...
    ------------