Được tạo bởi Blogger.

Thứ Năm, 28 tháng 6, 2012

Nguyễn Thế Khoa 

"Hãy cứ vẽ như không biết vẽ thì đã sao?" (Bùi Xuân Phái).
Giữa tháng 12 vừa qua, họa sĩ Lê Đại Chúc từ Hải Phòng lên Hà Nội và ghé lại thăm nhà báo Nguyễn Thế Khoa. Giữa hai ông có một cuộc trao đổi về câu nói trên của họa sĩ Bùi Xuân Phái. Cuộc trao đổi này thể hiện quan điểm rất thú vị về nghệ thuật và sáng tác mỹ thuật. MTHP xin giới thiệu nội dung cuộc trao đổi này:

     - Anh thường nói: Hoạ sĩ vẽ gì thì vẽ, cuối cùng vẫn là tự hoạ, xin anh giải thích thêm chiêm nghiệm này?

     - Có người hỏi tôi: hoạ sĩ là ai? Tôi đã trả lời: Hoạ sĩ khác người thợ vẽ ở chỗ dù vẽ gì thì vẽ cuối cùng vẫn là tự hoạ. Theo tôi, hội họa, nghệ thuật bao giờ cũng là vấn đề riêng tư, rất riêng tư. Người họa sĩ vẽ gì thì cũng theo con mắt riêng, tư tưởng, cảm xúc riêng, cách đánh giá riêng, theo những mách bảo riêng của trái tim mình. Nếu để một lọ hoa cho 10 họa sĩ cùng vẽ thì dứt khoát sẽ ra 10 bức tranh hoa khác nhau. Chữ tự họa tôi dùng ở đây nhằm nhấn mạnh rằng họa sĩ dù vẽ đối tượng nào thì cùng đều thể hiện chân dung của bản thân: suy nghĩ và quan niệm về cuộc sống, con người, về đối tượng vẽ, quan niệm về hội họa,  và cả học vấn, sở thích... nghĩa là tất cả những gì chất chứa trong lòng mình. Người họa sĩ thậm chí còn vẽ ra những điều mà mắt thường không nhìn thấy nhưng họ lại nhìn thấy được thông qua tôn giáo, thông qua khoa học, thông qua tâm linh. Nhà bác học Nga Gamov khi nghiên cứu về vật chất tối (Dark Substance) từng nói: “Những cái mắt thường không nhìn thấy không có nghĩa là chúng không tồn tại”. Tôi vẽ đống rơm màu xanh, lũy tre màu đen, con trâu màu đỏ và khi tranh của tôi đẹp, có hồn thì mọi người đều thấy tôi có lý. Tôi cũng vẽ mình thành ông da đen, lông mày màu xanh và hai mắt màu vàng. Danh họa Gaugin nói: “Mọi cái đều có thể”.

  - Không ít người khen Lê Đại Chúc là trường hợp hiếm hoi của một người không qua trường lớp, chỉ nhờ tự học mà thành công trong hội họa. Anh nghĩ sao về lời khen này?

  - Đây là một sự nhầm lẫn lớn. Hầu hết các danh họa trong nước và trên thế giới đều thành công chủ yếu là nhờ tự học chứ không phải nhờ trường lớp. Họa sĩ Nguyễn Gia Trí và họa sĩ Nguyễn Sáng đều học Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương nhưng thành công lớn nhất của họ với tranh sơn mài là do tự mày mò nhiều năm học từ truyền thống sơn mài dân tộc. Trường Mỹ thuật Đông Dương cũng có dạy về sơn mài nhưng chỉ rất đại khái. Pablo Picasso cũng vậy, ông chỉ học ở Học viện Mỹ thuật Madrit một năm rồi bỏ ngang sang Paris rồi nhờ tự học rồi thành danh. Cần nhấn mạnh rằng trường lớp là quan trọng nhưng tự học mới là cái quyết định thành công của bất kỳ họa sĩ nào. Nếu chú ý ta sẽ thấy là các bậc thầy hội họa thường không bao giờ dạy ở các trường và nếu không học được họ thì khó có thể thành công. Sự tự học có cái hay là hoàn toàn tự do, chỉ học những gì thiết thân nhất và có thể chọn lọc những cái hay nhất của các bậc thấy, không bị phụ thuộc vào bất cứ chương trình giáo án nào.

       Picasso, họa sĩ vĩ đại nhất thế kỷ 20 là một tấm gương tự học lớn. Khi đã thành danh và giàu có, Picasso đã mua rất nhiều tranh của người khác. Picasso quan niệm đơn giản thế này:  "Họa sỹ là người sở hữu bộ sưu tập riêng của mình". Đặc biệt là ông ấy mua nhiều nhất là tranh của H.Russo, vốn là một họa sĩ tự học hoàn toàn. H.Russo đã là nguồn cảm hứng và có ảnh hưởng lớn đến sáng tạo của Picasso, Kadanski và cả Matisse. Picasso, Ka danski và Matise vĩ đại bởi họ luôn nhận ra và học hỏi không ngừng những cái hay, cái vĩ đại của người xung quanh.

        Có lần, một bạn họa sĩ nổi tiếng khen tôi: “Không qua trường lớp mà vẽ được như ông thì thật đáng khâm phục”. Tôi liền đùa lại: “Ông nói ngược rồi! Qua trường lớp mà vẫn vẽ được như ông thì mới đáng kính phục”. Trong câu nói đùa của tôi, có một sự thật nghiêm túc: sáng tạo nghệ thuật nói chung và sáng tạo hội họa bao giờ cũng rất kỵ những trói buộc trường quy, những khuôn vàng thước ngọc áp đặt và người nghệ sĩ nếu không vượt qua những rào cản đó thì khó có thể thành công. Họa sĩ Bùi Xuân Phái từng ghi vào nhật ký câu này: “Hãy cứ vẽ như không biết vẽ thì đã sao!”. Đối với thế giới Bùi Xuân Phái chưa phải là một họa sĩ vĩ đại nhưng câu nói này của ông thì quá vĩ đại, thế giới hội họa chưa ai nói được như ông. Một câu nói chứng tỏ ông hiểu hội họa đến mức tận cùng . Chính các họa sĩ nổi tiếng nhất thế giới cũng chưa ai dám chắc mình đã thực sự hiểu hội họa. Salvado Dali từng nói: “Tôi hiện là họa sĩ nổi tiếng nhất thế giới, ấy vậy mà tôi vẫn không hiểu được vẽ là thế nào?”. Họa sĩ Bùi Xuân Phái từng chỉ cho tôi xem tranh của Gaugin, Russo và nói: Vẽ như thế này là sai rồi đây này nếu theo quan niệm trong trường nhưng chính những cái sai này mới là đẹp. Nghệ thuật là tình yêu mà tình yêu thì không ai có thể dạy ai được. Tôi ngờ rằng những ngưòi hay lớn tiếng chỉ dạy về tình yêu thực ra chưa hiểu mấy về tình yêu. Chính tình yêu của mỗi người sẽ tự mách bảo cách yêu, cách chinh phục người mình yêu của họ. Người phương Tây có câu: "Nghệ sỹ sinh ra đã là nghệ sỹ ngay chứ không phải do đào tạo". Nhấn mạnh điều này không phải là việc coi thường các trường lớp nghệ thuật nhưng quả thật các trường lớp có thể dạy vẽ nhưng không đào tạo được họa sĩ, có thể dạy viết văn nhưng không thể đào tạo nên nhà văn, có thể dạy nhạc nhưng không đào tạo được nhạc sĩ. Học nghệ thuật là học để quên chứ không phải để nhớ. Làm nghệ thuật là một quá trình tự đào tạo qua công việc lao động sáng tạo bền bỉ hàng ngày, nếu muốn thành công thì phải nhớ đến cái nguyên tắc hồn nhiên mà Bùi Xuân Phái nhắc nhở: “Hãy cứ vẽ như không biết vẽ”…

     - Anh nghĩ thế nào về tính dân tộc của hội họa, có nên đề cao tính dân tộc trong hội hoạ hiện đại?

     - Tính dân tộc là một thuộc tính tự nhiên của hội hoạ. Người họa sĩ luôn thuộc về một đất nước một dân tộc và đầu tiên, anh ta bao giờ cũng vẽ con người và thiên nhiên đất nước mình dân tộc mình và vì thế không thể lẫn với con người của đất nước dân tộc nào khác. Các đặc trưng về tư duy, cảm xúc, rồi các đặc trưng về màu sắc, đường nét, hình khối cũng tạo nên tính dân tộc của một nền hội họa. Thế giới từng biết đến những nền hội họa đặc sắc của Hà Lan, Italia, Pháp …Tuy vậy, các họa sĩ lớn không chỉ thuộc một đất nước, một dân tộc, họ thuộc về nhân loại. Theo tôi, ngày hôm nay không nên quá đề cao tính dân tộc khiến cho người nghệ sĩ lúng túng và tự làm nghèo mình. Ví như dân tộc ta không chỉ là sơn mài, lụa, hay chỉ là con trâu, bến nước gốc đa, áo tứ thân hay cứ dùng màu nâu sẽ ra dân tộc. Nguy hiểm hơn là việc tuyệt đối hóa dân tộc tính dễ dẫn đến một thứ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, khi dân tộc nào cũng cho mình là nhất, thì đó là nguồn gốc những bi kịch lớn của nhân loại hiện nay như chiến tranh, thù hận…Có lẽ, theo tôi, bây giờ mối quan tâm lớn nhất của các họa sĩ Việt Nam là làm sao tranh mình vẽ thật hay thật đẹp, trong cái hay cái đẹp luôn bao hàm tính dân tộc và tính nhân loại. Thế giới người ta rất sòng phẳng, rõ ràng về việc này. Trong các bảo tàng và galerry lớn thế giới, dưới một bức tranh đẹp, sau tên của họa sĩ, bao giờ họ cũng ghi quốc tịch và thậm chí cả nguồn gốc dân tộc của họa sĩ. Ví dụ: Họa sĩ X, quốc tịch Mỹ, gốc Việt Nam.

     - Theo anh thì hội hoạ Việt Nam đang ở đâu trên bản đồ hội hoạ thế giới?

    - Nếu nói về tình hình chung thì nền hội họa của chúng ta mới là ở cỡ khu vực thôi. Nhưng có một số họa sĩ có thể bày ra ở nước ngoài một cách đàng hoàng. Đó là những tên tuổi như Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm. Họa sĩ Nguyễn Gia Trí thì có thể coi là một thiên tài, người đã đưa sơn mài từ mỹ nghệ lên thành hội họa và được coi là một trong ba người làm sơn mài giỏi nhất thế giới. Các  họa sĩ  Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm cũng có những bức tranh độc đáo, gây ấn tượng trong hội hoạ thế giới.Thế hệ sau đó cũng có những nhân tài hội họa. Mỹ thuật Miền Nam thì tôi không biết nhiều, nhưng ở Miền Bắc, thì tôi thấy họa sĩ Lê Quảng Hà, họa sĩ Đặng Xuân Hòa và họa sĩ Đinh Quân thì chả thua ai hết. Bày tranh của những họa sĩ này ra nước ngoài thì cũng có cái để người ta xem. Tuy vậy, cũng phải nói rằng chúng ta chưa có một nền hội họa có thể sánh với những cường quốc hội họa của thế giới.
(Bài viết đã được MTHP biên tập lại cho phù hợp với chủ đề này) 

Cùng chủ đề:


Tôi không vào được blog của mình một cách bình thường từ mạng của VNPT và Viettel nữa. Tất nhiên, tôi vẫn có cách để vào, nhưng lo là lo cho đông đảo quần chúng nhân dân không biết cách vượt tường lửa. Trong lúc đó, hiện tại có thể vào Facebook một cách thoải mái.


Trước đây tôi vẫn đặt mua sách nước ngoài qua mạng bình thường, nhưng đợt gần nhất thì đang bị ách lại. Phải làm thêm một số thủ

Thứ Ba, 26 tháng 6, 2012

THỂ LỆ CUỘC THI THIẾT KẾ LOGO VÀ SÁNG TẠO SLOGAN
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP ĐIỆN I

Giới thiệu chung
               Là cuộc thi thiết kế Logo và Slogan do Công ty Cổ phần Xây lắp Điện I (PCC1) tổ chức với mục đích chọn lựa được mẫu Logo và Slogan phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh, định hướng phát triển và quy mô phát triển của PCC1.

Nội dung Cuộc thi
Các mẫu Logo và Slogan cho Công ty Cổ phần Xây lắp Điện I (PCC1), đảm bảo tuân thủ một số yêu cầu cơ bản sau đây:
  Thể hiện được tính chất ngành như: Vị thế hàng đầu của PCC1, hoạt động trong lĩnh vực xây lắp các Công trình điện Quốc gia, Sản xuất Công nghiệp, Đầu tư Bất động sản, Tư vấn.
  Đạt được các yêu cầu về: Thẩm mỹ, dễ nhớ, dễ nhận biết, ấn tượng với khách hàng, và thể hiện được bản sắc Văn hóa Á Đông kết hợp với hiện đại hội nhập.
  Được kết hợp hài hòa với tên gọi Công ty, tên viết tắt Công ty và Slogan.

Sản phẩm dự thi

Số lượng sản phẩm dự thi:
- Cá nhân: Không quá 03 mẫu thiết kế mỗi loại (Logo và Slogan).
- Tổ chức: Không quá 05 mẫu thiết kế mỗi loại (Logo và Slogan).
Sản phẩm dự thi không được vi phạm thuần phong mỹ tục Việt Nam.

Hồ sơ dự thi bao gồm:
- Đơn đăng ký dự thi (theo mẫu của Ban tổ chức).Tải xuống hồ sơ đăng ký thiết kế logo tại đây
-Mẫu thiết kế logo và slogan.
-Mô tả ý tưởng về Logo (không quá 500 từ).
-Tài liệu giới thiệu về tổ chức hoặc cá nhân dự thi.

Mẫu thiết kế được thể hiện như sau:
Đối với Logo:
- Được in và thể hiện trên cùng một trang giấy A4 (21cm x 29,7cm). Được đánh mã (bằng chữ màu đen, font TCVN3 (ABC), size 13) từ 01 đến 05 ở phía trên góc phải trang giấy.
- Logo lớn (kích thước dài/ rộng không quá 15cm) in màu đặt ở chính giữa trang giấy.
- Logo nhỏ (kích thước dài/ rộng không quá 03cm) in đen trắng đặt ở phía dưới góc phải trang giấy.
- Bài mô tả ý tưởng Logo được đánh mã theo mã của Logo (bằng chữ màu đen, font TCVN3 (ABC), size 13) từ 01 đến 05 ở phía trên góc phải trang giấy.
Đối với Slogan:
- Được in và thể hiện trên cùng một trang giấy A4 (21cm x 29,7cm). In chữ mầu đen, font TCVN3 (ABC), size 13.

Thời gian và cách thức tham gia dự thi
Thời gian gửi bài dự thi:
-Từ 01/06/2012 đến hết ngày 31/ 10/ 2012.
Cách thức tham gia dự thi:
Bài dự thi được gửi một trong hai cách sau:
-Gửi theo đường bưu điện hoặc mang trực tiếp đến địa chỉ liên lạc của Ban tổ chức.
Toàn bộ hồ sơ dự thi được để trong phong bì khổ A4, phía ngoài ghi rõ:
“ Thiết kế Logo và Slogan PCC1”.
Và gửi tới:
“ Phòng Trợ lý Tổng giám đốc, Tầng 2, Tòa nhà CT2, Số 583 Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – Hà Nội”
-Hoặc gửi vào địa chỉ E-mail: Tung.nguyen@pcc1.vn

Quyền và trách nhiệm dự thi
Các tổ chức/ cá nhân tham gia dự thi phải ký bản đăng ký tham gia dự thi phải tuân thủ Thể lệ do Ban tổ chức cung cấp, trong đó phải đảm bảo:
- Logo và Slogan dự thi không phải đối tượng tranh chấp bản quyền tác giả.
- Logo và Slogan dự thi chưa được sử dụng, xuất hiện trên bất kỳ phương tiện đại chúng nào ở trong và ngoài nước.
- Không được sử dụng Logo và Slogan đã đoạt giải tại cuộc thi lần này vào bất kỳ ấn phẩm truyền thông hoặc cuộc thi nào khác.
- Đối tượng dự thi là cá nhân phải cung cấp tên, địa chỉ cư trú, số chứng minh nhân dân, ngày cấp, nơi cấp chứng minh nhân dân, địa chỉ E-mail, số điện thoại liên lac.
- Đối tượng dự thi là tổ chức/công ty phải cung cấp chính xác: tên, địa chỉ pháp lý, số giấy đăng ký kinh doanh.
- Ban tổ chức không chịu trách nhiệm nếu bài dự thi gửi tham gia cuộc thi không đến được Ban tổ chức.
- Ban tổ chức không trả lại bài thi.
- Trong trường hợp, việc tranh chấp bản quyền tác giả phát sinh sau khi sản phẩm dự thi đoạt giải, đối tượng đó phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật và các tổ chức liên quan.
- Mọi chi phí hay các khoản thuế thu nhập liên quan đến giải thưởng thực hiện theo quy định của Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ do tổ chức hoặc cá nhân trúng giải chịu.
- Tổ chức/ cá nhân trúng giải sẽ phải chịu hoàn toàn chi phí đi lại, ăn ở để đến nơi trao giải.
- Giá trị giải thưởng sẽ được trao trực tiếp cho thí sinh có sản phẩm dự thi đoạt giải hoặc người được thí sinh có sản phẩm đoạt giải ủy quyền khi kết thúc cuộc thi.

Quy định về giải thưởng và trao thưởng:
Giải thưởng bao gồm:
Đối với Logo:
- 01 giải nhất:Gồm giấy chứng nhận giải thưởng của Công ty Cổ phần Xây lắp Điện I và giải thưởng trị giá 30 triệu đồng.
- 04 giải khuyến khích: Gồm giấy chứng nhận giải thưởng của Công ty Cổ phần Xây lắp Điện I và giải thượng trị giá 3 triệu đồng.
Đối với Slogan:
- 01 giải nhất:Gồm giấy chứng nhận giải thưởng của Công ty Cổ phần Xây lắp Điện I và giải thưởng trị giá 20 triệu đồng.
- 04 giải khuyến khích: Gồm giấy chứng nhận giải thưởng của Công ty Cổ phần Xây lắp Điện I và giải thưởng trị giá 2 triệu đồng.
Nếu không chọn được hồ sơ dự thi nào đạt yêu cầu, Ban tổ chức có quyền quyết định không trao giải.
Việc trao giải thưởng PCC1 sẽ tổ chức công khai và thông báo tại website chính thức của PCC1.

Quy định về sở hữu đối với những tác phẩm đoạt giải
PCC1 sở hữu bàn quyền sử dụng vô thời hạn cũng như toàn quyền đăng ký sở hữu trí tuệ đối với những mẫu Logo và Slogan đoạt giải theo mục đích của PCC1.
PCC1 có quyền sử dụng tất cả các mẫu Logo và Slogan dự thi cho các hoạt động của Cuộc thi.
PCC1 có toàn quyền quyết định về việc chọn mẫu thiết kế nào được ứng dụng thực tế.
Trong thời gian diễn ra cuộc thi, tác giả không được sử dụng các Logo và Slogan tham gia cuộc thi này để tham gia dự thi bất kỳ cuộc thi nào khác.


PHỤ LỤC 1 - THỂ LỆ CUỘC THI
ÁP DỤNG CHO MẪU THIẾT KẾ
ĐƯỢC SỬ DỤNG LÀM LOGO và SLOGAN CHÍNH THỨC CỦA PCC1

HỆ THỐNG NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU PCC1

1.      Tiêu đề thư:
-         Giấy viết thư: Cỡ giấy A4, màu trắng, dành các khoảng trống tối thiểu cho các lề trái, phải, trên, dưới, giữa, địa chỉ, ngày tháng và lời mở đầu thư.Có dán Logo & Slogan trên giấy này.
2.      Phong bì:
-         Phong bì các khổ. Vị trí của Logo & Slogan trên phong bì, vị trí cửa sổ phong bì, vị trí đặt tên và địa chỉ người gửi được sắp xếp hợp lý và hài hòa. Thiết kế các loại phong bì to và phong bì nhỏ, phong bì cho các thư mời, thiệp mời, giấy mời…..
3.      Danh thiếp:
-         Logo & Slogan, kiểu in, màu sắc của danh thiếp phù hợp với nhau, các chi tiết chính được trình bày ở mặt trước của danh thiếp, kích thước của danh thiếp không rộng quá 9cm x 5,5cm.
4.      File:
-         Thiết kế các file đựng tài liệu, tờ trình phải thể hiện dược cách bố trí Logo & Slogan, thông tin của PCC1 và các đơn vị thành viên.
5.      E – mail:
-         Hướng dẫn chi tiết cách trình bày Logo & Slogan trong E – mail.
6.      Kết hợp Logo và Slogan:
-         Thể hiện sự kết hợp giữ Logo và Slogan trong những sản phẩm cụ thể.
7.      Sử dụng Logo và Slogan:
-         Trên biển hiệu.
-         Trên các phương tiện truyền thông

Chúng tôi hy vọng sẽ có được sự hưởng ứng từ các tổ chức, các cá nhân trong nước và quốc tế. Mọi chi tiết xin vui lòng tham khảo Website: www.pcc1.vn
Hà Nội, Ngày 01 Tháng 06 Năm 2012.

Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2012

Not all those who wander are lost


1. Since the beginning of this year, I've been thinking a lot about quitting jobs, applying to jobs, shifting between jobs, and on top of countless questions I've asked myself about jobs, I also deal with the choice between working and studying, my path in the future, my goals in life, my nature, my qualifications. In short, everything a person needs to know to figure out where she used to be, where she is, and where she is moving towards to. I struggle through the process, occasionally wish someone were there to tell me the answers. Yet when I look around, many of my friends are having the same problems at various extents. However, most of them think of these problems as personal stuffs, namely it's their own private matters to handle and settle. No one can tell them where to go, what to do, and how to make a decision about their own lives. Very true, but a commonness that thrives above all individual differences is the confusion and struggle that we young people all share. We fumble through choices and decisions, sometimes fall and hurt ourselves along the way. But why?

2. First of all, no "how-to-be-a-successful-person" books or "how-to-achieve-the-best-in-life" training course can tell you what you want. There are many principles, rules and arguments they talk about, and it's not easy to reach an agreement on what is actually the best way to succeed. Sometimes, information is even conflicting, just serves to drive the readers even more confused from a great pool of advice available. Yet, they are all similar in one thing. Their point of departure is an assumption that everyone already has a goal they want to reach. All self-help books and motivational courses aim at helping you materialize and make your dreams come true. Lots of instructions are given on the process of turning yourself into a great person.

Therefore, none of these rich resources teach you how to have a dream in the first place. They take it for granted that everyone must want something, and readers only need to work with a set of inborn and passionate dreams they have always held dear to their hearts. Which is absolutely not true, because not everyone is born with a mission that they are required to accomplish, much less a burning desire they are compelled to fulfill. The mainstream discourse makes it worse by always publishing messages and stories about people who forcefully move towards their goals, leaving the rest guilty as if having no dream to cherish is a crime. You don't have a dream, then you can't be a complete human.

Living in a post-modern period only makes the matter worse. We are encouraged to "find" our dreams, and not quit searching until we can "identify" something that we are totally thrilled to do and will never get tired of doing it. The notion of "looking for", and "searching" imply that "something" exists, it's always there, like an eternal treasure or a faithful servant waiting for us to discover. Such a dream sounds so much solid and still that we can grasp it with a little effort from our sides, and most importantly, we can not quit until we find it. That means we can keep hopping and leaving things along the way, until we are truly satisfied that we have come to "the dream". This sentiment of entitlement draws many young people (me included) into an endless cycle of asking "is this job the right one for me?" "should I quit to find something better?" "what if I am missing out on something great out there?"

On our way to "search" and "find" THE dream,  we are confused a lot, because we can never be sure, especially when we are young, whether the current job we have is the one. It doesn't have a label "best job for you", it doesn't tell us, there is no sign except our own feelings, which by the way is fleeting and unreliable. No one tells us how to "create" a dream, they just spread the message that first we need to find it, then hold it tight and make it come true. Yet when we find something that seems nice enough, we are reluctant because we don't know if it's the right one, so we don't apply the "how to be successful" rules, because it takes effort and determination, and when we can't be sure if this less than perfect job is worth the effort, we leave it to find something better. The cycle continues.

3. Secondly, after young people leave school, we lack a system of orientation. Having spent 16 years in a coherent and consistent system (assuming they finish undergrad degree), we are now left on our own to figure out when to grade themselves a 10 or a 0. During school time, there are certain times we need to work hard (i.e. exams) and times we can relax (summer vacation). We have fixed and clear goals we want to achieve (high scores, good remarks from teachers). And the rewards are obvious and predictable as well. Our lives revolve around this system, and as long as we follow the rules, we will win the game.

However, in an "adult" world, even black and white is not always separated, let alone "high score" and "low score". We and our best friends may choose different values to base our lives on. Some want to make lots of money, some want fame, yet some others want an intellectually challenging occupation. Some hope for security, some strive to be adventurous. As there is no teacher to tell us right from wrong, we look around and our peers only confuse us more. Paths diverse, and it's hard to measure one against another. Yet we young people are not usually aware of this split, we keep comparing ourselves to friends from high school or university, and we turn miserable if they earn more money than us, even if they are having the most boring jobs in the world!

Young people are left to build a new value system, and surely they are ill-prepared after so many years spent inside educational institutions' walls. Either they take whatever their families or their friends believe is the best for them without questioning, or they struggle to set up their own structure. Living in a hyper-connected world doesn't help. As we are constantly bombarded with news and updates from friends about their jobs, their ups and downs, or even their income and achievements, we can't help but feeling pressured to be at least as good as the best of them. No matter how many times we tell ourselves to stop doing that, deep down we still feel uneasy if somehow through a random conversation of facebook, we come to know that most of our friends are earning 400-500$ while we only earn 350$. Then either consciously or unconsciously, we feel something wrong, even if we can't name it. This only adds up to our relentless confusion and makes it more difficult to stay in the same place and feel satisfied.

When can we buy ourselves an ice-cream when neither our bosses nor our colleagues give us a score on our performance? When we have raise in salary? A promotion? An exciting task? By the way, none is these rewards are likely to take place among young people, who have joined the workforce for only a short time and lack any indicators to comfort themselves about their work.

4. Last but not least, as young people we can afford choosing among many options and changing our minds along the way. We don't have a family to support yet, and many of us are still supported by our parents, so we don't have to take into consideration a tight range of salary, distance from home to work, working hours, annual leaves, insurance and many other factors that a committed and married employee needs to think about when she or he wants to change jobs. We can travel a little further, accept a little lower payment, work a little longer, just to have the job we like. Again, since we are too free to start with, it's more difficult to make a sound decision. We are not bounded by many limitation as older employees as they are responsible for some other family members besides themselves, we only have our feelings to base our judgement on. It's great because it allows freedom, but not so great as it also allows precariousness. We shift and move continuously. Young people often lack the necessary experience and broad perspective to know what's best for us in the long term.

Moreover, as young people from certain social class background (I am talking about middle-class and above, urban youth), we don't have to worry about not having food to eat the next day if we quit this job and can't find a new one immediately. We have such a secure life that we can take the risk of being unemployed for months, even years. Some of us break the cycle altogether and become freelancers, which is great except that we know we can fall back on our parents whenever we need. This security is great also because it allows us more freedom as we rise above the necessities, yet it sways our decisions easily. As a result, we fumble and are not willing to commit or pay the price we need to pay. We are blanketed among our parents' arms, so we refuse to grow up. By switching jobs, we permit ourselves the right to act according to what we want, not what we need.

5. Nevertheless, I do believe that this stage of life is necessary and good. If we are confused and can afford being confused, then it's ok to be confused. If we fumble, fall, and fail at some points, and don't break ourselves or burden someone else because of our failures, then it's ok to fumble, fall and fail. If we don't know yet what we want, and can take the time to try different things, without going hungry or let someone else go hungry, then it's ok to not know what we want, at least for the time being. Of all the causes, I think the most important to me is rephrase the term "find your dream" to "create your dream". Only when we stop viewing dreams and goals as fixed and independently existing from ourselves, and change to think of them as a product of the process, which we "create" as we act, rather than something we "look for", "find" and only start working later.

Very few people know what they want from the beginning, even fewer are born with an innate mission. Thus, to embrace confusion, to greet difficult choices and to hold on to our questions even if we don't have an answer is good.  As Nietzsche once wrote: "One must have chaos in oneself to give birth to a dancing star."

Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2012

1. Len lỏi trong những con đường Hà Nội ken dầy mái nhà, cây và bụi là những mái đình, mái chùa nhỏ xinh hoặc bề thế, cổ kính hoặc mới coong. Mỗi lần ngước lên nhìn một tấm biển tên đền, chùa như thế, bạn lại trào lên mong muốn thấu hiểu những kí tự Hán ngữ phức tạp và rối rắm kia. Việt Nam có vô số những công trình tôn giáo nho nhỏ lẫn vào lũy tre, vào nhà cao tầng, ở trên núi cao cũng như dưới đồng bằng mà tên của những đình chùa ấy được viết bằng tiếng Hán, nhưng càng ngày số người Việt đọc được những từ ấy càng giảm.

Chưa kể những bức hoành phi, câu đối, tên làng, và cả tranh chữ treo ngày tết, cũng đều là một thứ ngôn ngữ chết. Nó chết không phải vì không ai hiểu nó nữa, mà là vì nó không còn là thứ tiếng được  dùng hàng ngày, nhưng cái thái độ kính cẩn, nghiêm trang mà loại chữ ấy khơi gợi từ người ta, luôn khiến bạn thấy tò mò. Nhưng bạn lại không hiểu. Đấy là một sự đứt gãy, giữa bạn và một phần  của văn hóa, của lịch sử, bởi vì bạn không hiểu những người Việt sống trước mình đã nghĩ gì và viết gì. Bởi vì bạn được sinh ra từ họ, là một phần của họ, nên mỗi khi ngước lên, rồi lại nhìn xuống, bạn thấy như bị chia cắt với chính một phần của bản thân mình.


2. Bạn sinh ra trong một gia đình thuộc lớp tiểu tư sản thành thị, không giàu không nghèo, hiền lành sống với thân phận con con và những bươn chải con con. Lúc còn nhỏ, trong khi chị và các bạn hàng xóm chơi đồ hàng, dùng lá làm tiền và đi mua những con giống bằng thạch cao về để bày bán cho nhau, bạn lại đi tưới cây, lấy đường thả vào tổ kiến và ngồi ngắm những con kiến bu lại để tưởng tượng ra cảnh một bữa tiệc linh đình mà dòng họ nhà kiến đang tận hưởng. Lớn lên một chút, trong khi cả nhà ngồi xem phim Hàn Quốc khóc thút thít thì bạn cắm mặt vào cái máy tính với thế giới online của mình.


Và rồi bạn đi xa. Bố mẹ đến hơn 40 tuổi chưa bao giờ đi máy bay, mặc dù sống ở thành phố nhưng hàng ngày chỉ đi từ nhà đến nơi bán hàng, rồi lại về. Trong cuộc giằng co giữa một lựa chọn  đơn giản và đúng đắn với một lựa chọn khó khăn và thú vị, bạn đã chọn cái sau. Đấy là một sự đứt gãy, giữa bạn và tất cả những người còn lại trong gia đình. Năm 16 tuổi, bạn khóc lóc và tự nhủ "không ai hiểu mình cả", và rất cô đơn với cái lựa chọn đi du học mà những người thân yêu nhất của bạn không ủng hộ, vì nó quá tốn kém, quá nguy hiểm, quá rộng lớn, và quá xa vời. Rồi, vì nhiều lý do, những người thợ thủ công sống vài chục năm ở thành phố và những người tần tảo bán buôn cóp nhặt những đồng lãi nhỏ để sống đã đồng ý để bạn đi, có nghĩa là dấn thân vào một con đường mà tất cả họ đều vô cùng xa lạ.


3. Mỗi lần bác tổ trưởng dân phố tay sổ tay bút đứng ở cửa nhà bạn để hỏi han và ghi chép xem thành phần gia đình hiện có những ai, ở đâu, làm gì, và tọc mạch hỏi "cháu đi làm cho tây lương cao lắm nhỉ, được mấy chục triệu hả cháu?" bạn lại khó chịu. Mỗi lần có một người họ hàng xa hỏi "bao giờ lấy chồng?" "tại sao chưa lấy chồng đi?" bạn lại khó chịu. Mỗi lần có một người bấm còi đằng sau để vượt lên khi bạn dừng lại ở đèn đỏ, bạn lại khó chịu. Mỗi lần có một người ngồi ven hồ cắn hạt hướng dương tí tách và tiện tay ném xuống mặt hồ, bạn vô cùng khó chịu. Và mỗi lần khó chịu như thế, bạn lại nhận ra một chút, mình khác với số đông xung quanh ra sao.


Và đấy là một sự đứt gãy, giữa bạn với những người xung quanh. Có người bảo bạn khó chịu vì tư duy "tây" quá, có người lại bảo sự khó chịu đấy là dở hơi. Bạn không tìm thấy bình yên ở một đất nước được xếp hạng là nơi bình yên thứ ba thế giới, nơi người ta không dám làm đau một con chim và công an không nỡ đánh thức một người vô gia cư đang say ngủ. Và khi trở về nơi khói bụi ồn ào, bạn lại thấy mình đã thay đổi đủ để không chấp nhận nhiều thứ và khập khiếng với thực tại ở nhiều chỗ.


4. "Tại sao lần nào tao gặp mày cũng vẫn y nguyên như thế?" - "Ấy chẳng thay đổi gì cả" - "Vân vẫn giống hệt cách đây 3 năm" - những người bạn quen biết lâu năm hay nhận xét về bạn như thế. Nếu đã không thay đổi, ngày xưa, bây giờ và tương lai vẫn y nguyên, thì làm sao có thể nói là đang đi tìm chính mình? 

Bạn hướng đến tính địa phương, muốn nghiên cứu về các vấn đề của Việt Nam nhưng mỗi khi cần diễn đạt điều gì hàn lâm lại phải dùng tiếng Anh. Sống cả đời ở thành phố, nhưng bạn thấy thoải mái nhất khi ở giữa những người nông dân. Khăng khăng tuân theo những lễ nghi nhỏ nhặt như đưa đồ cho người lớn bằng hai tay, nhưng bạn thấy được là chính mình nhất khi làm việc với người phương Tây. Bạn muốn sẽ có một gia đình yên ấm thuận hòa, nhưng lại kinh hoàng khi nghĩ đến cảnh nội trợ con cái nheo nhóc trong vai trò phụ nữ truyền thống. 

Và bạn thì cứ vật lộn để tìm ra một điểm nối của tất cả những chỗ đứt gãy, một vị trí nào đó mà bạn cảm thấy hoàn hảo nhất cho mình. Có lẽ ở thời điêm này câu hỏi khôn ngoan hơn không phải là "tôi là ai?" mà là "tôi thuộc về đâu". Câu trả lời có thể là một chỗ, vài chỗ, hoặc không nơi đâu cả. Nhưng điều quan trọng là ý thức được bạn có nhiều phần, và không cần phải cố bỏ đi phần nào để khép mình vào một định nghĩa có sẵn. Nông dân trồng khoai và Công dân quốc tế không nhất thiết phải loại trừ nhau. Còn chuyện tìm kiếm thì để sau tính....

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

Điều đáng sợ nhất khi đọc Tôi, Charley và hành trình nước Mỹ là nó thắp lên trong ta một khát vọng ra đi, một ham muốn [tột bực] gác bỏ mọi thứ, một mình một ba lô lên đường dong ruổi bất định. Đáng sợ, vì ta biết rất khó làm được như thế. Có quá nhiều thứ trói ta lại, neo ta lại, gắn chặt mông ta vào cái ghế văn phòng.
Điều đáng nhớ nhất, với tôi, khi đọc xong cuốn này, đó là Steinbeck mang theo

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012

1. Gần 5h chiều, mây đen ngùn ngụt kéo đến. Sau gần 2 tuần nóng điên đảo và bị hun bởi khói đốt rơm từ ngoại thành bay vào, mình hớn hở ngóng cơn mưa rào nhiệt đới. Mưa thì sẽ mát, sẽ hết khói, hết bụi, sẽ khiến mùa hè dễ chịu hơn một chút. Thoáng chốc, mưa đổ xuống trắng xóa cả trời. Từ trên tầng 21 nhìn xuống, mưa xiên xiên như đang múa. Mọi người đứng ra cửa sổ xuýt xoa khen mưa đẹp.

Lúc đấy thì mình nhớ ra là hôm nay mình đi xe buýt đi làm, không mang áo mưa, và quan trọng nhất là mình đang vác cái laptop. Một vài phương án chạy qua trong đầu, mình không thể để laptop lại đây để về người không, cũng không dám ôm laptop đứng đợi xe buýt trong màn mưa xối xả như thế. Phương án cuối cùng, lôi điện thoại gọi người yêu đến đón. Sau vài câu mặc cả và vài cái thở dài nẫu cả ruột, chàng đồng ý.

Có một số điện thoại để gọi đến đón khi trời mưa là một thứ xa xỉ. Thứ xa xỉ mà trong suốt 4 năm xa nhà mình không có. Và thứ xa xỉ ấy biến một nơi chốn, một thành phố bất kì, có thể không phải là Hà Nội, trở thành Nhà.

2. Bọc laptop vào một cái túi nilon to tướng và khệ nệ bê xuống đường. Mình đứng nép vào mái hiên của tòa nhà và bắt đầu chờ đợi. Có một vài người khác hình như cũng đứng chờ người đến đón như mình. Người người lúp xúp trong áo mưa. Một trong những lý do để mình đi xe buýt đi làm là lái xe trên đường phố, nhất là vào giờ tan tầm, thường gây ra những bực bội không cần thiết. Mọi người hay bấm còi, hoặc cố tình len lách, hoặc lao đến khi không thể lao được nữa, để giành giật từng centimet đường. Mưa như thế này hình như cái sự cạnh tranh ganh đua ấy cũng được xoa dịu đi.

Đợi mãi chẳng thấy người yêu đâu. Đứng bắt đầu chồn chân thì mình thấy có một em trai khoảng 14-15 tuổi, dắt một em gái khoảng 7-8 tuổi đến gần chỗ mái hiên mình đang đứng và bảo "em chờ anh ở đây nhớ". Em trai chạy biến vào màn mưa, còn em gái đứng đó, tóc tết hai bên, mặt tròn bầu bĩnh, thỉnh thoảng ngước lên nhìn mình. Lúc sau, một chiếc ô tô bảy chỗ từ từ tiến lại. Em trai từ trong ô tô chạy ra, mở cửa xe cho em, rồi chạy ra dắt em lên xe. Chẳng có gì đáng nói, chỉ là hai bạn trẻ nhà giàu như vô vàn những gia đình khác ở thành phố này. Nhưng em trai sau khi đóng cửa xe cho em gái đã trèo lên ghế lái, chứ không phải ghế bên cạnh. Mình mở to mắt để xem có nhìn nhầm không, vì rõ ràng thằng bé này mặt non lắm, có lẽ chưa học hết cấp 2. Cái xe lùi dần, hòa vào màn mưa và dòng xe cộ nườm nượp. Có một vẻ gì đấy vừa hùng dũng, vừa kiêu ngạo của một chiếc xe đắt tiền mới cóng, nhưng cái thái độ "đương nhiên là như thế" của cậu bé không quá 14 tuổi ấy, khi lái chiếc xe đó đi, khiến mình thấy gờn gợi. Cùng là cơn mưa, nhưng ảnh hưởng của nó lên những số phận khác nhau vô cùng đa dạng. Ngay bên cạnh mình, cũng mượn mái hiên để tránh mưa là một chị bán hàng rong với hai gánh các loại áo lót, chun buộc tóc, bông tắm lỉnh kỉnh. Chị chỉ có hai mảnh nilon to để che hàng, nên chạy được đến mái hiên này người đã ướt như chuột lột, giờ đang đứng run rẩy đợi ngớt mưa.

3. Mình đứng ngắm mưa và bắt đầu nghĩ miên man về sự đời. Đã đi làm ở chỗ mới được một tuần, và đã thấy bức bối đủ để muốn rời bỏ. Vẫn là câu hỏi cũ đặt ra, mình có đang tự nuông chiều bản thân quá không, khi cho phép mình rời bỏ bất cứ điều gì mình không thích? Có nên ép mình quen và thích nghi, hay lại bỏ đi để tìm kiếm một công việc mình thấy hài lòng? Một công việc mà mình không muốn nghĩ đến sau 5h chiều, và sau hai ngày cuối tuần thì sợ hãi cái viễn cảnh phải ở đó 5 ngày tiếp theo, thì có nên cố chịu đựng hay không? Trước khi bắt đầu làm ở đây đã tự nhủ không nên lông bông nữa, nên gắn kết với một chỗ để làm cho tử tế, nhưng sau một tuần lại thấy nản. Chẳng nhẽ một công việc mà mình đủ hứng thú để không thấy ngán ngẩm hay sợ hãi lại khó tìm đến thế sao?

Nghĩ về một cô bạn đã tuyên bố chắc như đinh đóng cột rằng "nơi chốn này, văn hóa này, gia đình này, không phải dành cho em. Em thấy ngột ngạt ở đây, em không được là chính mình, em phải sống theo những sắp xếp của bố mẹ, em ghét những định kiến của xã hội, nên bắt buộc em phải sống ở đất nước khác. Em ngại thay đổi, nhưng em không nghĩ mình có thể sống hạnh phúc ở đây". Dường như lựa chọn của em rất giống với sự tự giải thoát và là kết quả của một quá trình giằng co giữa một người trẻ muốn khẳng định mình và bậc phụ huynh muốn kiểm soát cuộc đời con mình như giật dây một con rối vải. Và mình lại thấy biết ơn bố mẹ mình vì các cụ chẳng bao giờ ép mình làm theo ý của các cụ, trong bất cứ việc gì từ bé đến to.

Mình nghĩ về mâu thuẫn giữa Bloom, chỗ làm cũ của mình và đối tác là một NGO Việt Nam. Mâu thuẫn ấy có vẻ như đi theo nguyên tắc: "Khi anh làm điều sai trái với tôi thì tôi cũng được quyền làm điều sai trái với anh. Nếu anh đã không phải với tôi thì tôi không việc gì phải cư xử đúng phép tắc với anh nữa." Cũng giống như khi một người vô cớ vung tay đánh ta thì ta thấy mình có quyền đánh lại họ, chứ không còn nghĩ được đến quy tắc không được xâm phạm đến thân thể của người khác. Hình như chỉ có các bậc thần phật thánh nhân mới sống được như thế. Giữ vững nguyên tắc đạo đức của mình cho dù ngoại cảnh hay những người xung quanh tác động ra sao. Người ta cứ đánh qua đánh lại, nên mâu thuẫn càng dày thêm, và khi được hỏi tại sao lại ra cơ sự ấy thì bên này đổ cho bên kia rằng họ đánh tôi trước, tôi chỉ trả đũa thôi nên tôi chẳng có gì sai cả. Thế nên con người mới quẩn quanh trong nỗi khổ, đấy là chữ "sân" trong Phật giáo, hay diễn đạt nôm na là "giận quá mất khôn".

4. Hơn một tiếng sau, khi chân đã mỏi nhừ và mưa đã gần tạnh hẳn thì người yêu mới đến. Đường tắc và có nhiều chỗ ngập sâu. Mất thêm gần một tiếng nữa lăn lội trên đường vì rẽ ngả nào cũng nghẹt người hoặc lụt nước. Nhưng dù sao thì cuối cùng vẫn về đến nhà.
Khi gặp hoạn nạn, có người để cầu cứu, và người ấy đưa được ta về chỗ trú ẩn an toàn, thế là tốt lắm rồi.
Umberto Eco hiển nhiên là một nhà thông thái. Nhưng tôi mê ông hơn cả ở tính hài hước, vì một lẽ tương đối hiển nhiên: những chỗ nào hiểu được mới cười, còn những chỗ nào không hiểu hẳn là vì ông quá thông thái:)
Tôi đang đọc dở cuốn Confessions of a Young Novelist, hình như ông viết thẳng bằng tiếng Anh vì không thấy tên dịch giả. Chương đầu cuốn này tên là Writing from Left to Right - Viết từ  

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

Đọc mẩu Ghi vội ở Hà Nội của Phan Việt, tự nhiên tôi cũng muốn ghi lại một tí. Tôi chẳng vội vàng gì, thế nên tôi ghi từ từ. Chuyện có thể xảy ra ở Sài Gòn, mà cũng có thể xảy ra ở bất cứ đâu.
Số là công ty tôi thường xuyên có đồng nghiệp từ các nước đến thăm và làm việc. Dạo gần đây, số vụ bị giật điện thoại, túi xách khi các vị khách này đang dạo phố Sài Gòn tăng lên đột ngột. Cứ vài tuần lại
How painful is it to relive and express your pain in public? How brave do you need to be in order to subject yourself to public judgement?


Contemporary art is catching up in Vietnam. Every month, there would be some events that relate to this specific form of art, be it a painting exhibition, a dance performance, or a play with unusual structure or interactive format. While creating and enjoying contemporary art is becoming more and more trendy, using it to present and tackle social issues is even more fashionable.

"Inviting myself to hope" is a very beautiful translation of the title of a famous song by Trinh Cong Son
Tôi ơi đừng tuyệt vọng" literally means "Hey me, don't despair". While the Vietnamese phrase is an encouragement, resulting from a bad outcome, the English version is a positive attitude. These are the name of a contemporary art performance put together by CSAGA* and a few big sponsors. The actresses are advertised as unprofessional performers and former victims of domestic violence. Now, after participating in a project aiming at supporting domestic violence victims for a few years, they have gathered enough courage to participate in a show about their own sorrow.

The play sent shiver down my spine many times, especially when the actresses expressed their reactions to violence. They crawled, they rolled, they cried, they screamed, they laughed, they became crazy, they froze, they were so frightened that they lost consciousness. Through the medium of play, they were free to act out their pain, and unlike traditional plays, the line between reality and imagination was blurred to a great extent. This play can be scripted, but all actresses have first hand experience of how being beaten days after days feels like, therefore, the performance transforms itself from a pure play to a recounted story of real events and real emotions.

There is quite clear story line, comparing to other attempts in conveying messages in contemporary art. I am not sure whether the crew wants to make the play as easy to understand as possible (since it aims at the mass audience and to raise awareness, rather than selective cultural elites who like to ponder upon complicated matters) or whether they just have a very urgent message that needs to get through and they can't take the risk of letting the audience draw their own conclusion. Phase one, some women got beaten, they became despaired, the men were shown to be aggressive, addicted to gambling and drinking. Phase two, the women got together, gained strength as a group, reclaimed their power. Phase three, the men realized their mistakes, were sorry for their awful deed, were forgiven by the women, and a happy ending. Everyone danced in the sunlight and the song of Trinh Cong Son was played as background music.

Even though movements and speaking tones were not as refined as those of professionals, I could still recognized some great efforts were made. However, there are two issues that keep coming back to my mind during the play. First, the men were depicted in a very criminal manner, while the women a victim-like manner. The men were all about aggressiveness, cheating, lying, abusing, while the women were only suffering, covering their faces with their hands, crying in the dark and offering their hands, both to their peers and to the men by the end. There was a very hostile distance between the two sexes, as if the men only know how to beat, and the women don't do anything else but crying. Criminalization of the male makes them seem irrational. Why are they the frightening creatures that only beat and abuse, and would why the women stick with them at all? Victimization of the female makes them irrational as well. Why do they only cry and suffer, and why don't they just leave the abusive men? Depicting one sex with all negative traits, namely all the men in the play were abusive and horrifying, makes their violent acts seem innate. They are bad, all of them are bad, nothing else to say. On the other hand, portraying all the women in the play as tolerant and passive make their suffering natural too. More than once, people in the audience commented how Vietnamese women are known and admired for their great tendency to scarify and consider the interest of others before their own. As everyone refers to this virtue as a legacy, it's not a big surprise that women would  internalize the duty to be willing to scarify anything, anytime so much that they forfeit their self-defense system.

However, despite being depicted as evils, the men still didn't bear the responsibility. They were either gambler, drinker or mentally ill. This, to me, is problematic as well, as this portrayal decentres the men from their bad behaviours, providing them a cause to blame. Do only men who drink, gamble and have mental problem beat their wives? Do only these irrational men, who are not always in the best state of their mind, abuse women? Does it mean that men who are in good shape, good mental state will never commit crimes against women? No, absolutely not. Creating a cause to blame is dangerous, because whenever people think of an abusive man, they will think of an external cause that happens to him. A man in the audience actually commented that sometimes men are abusive because they face failure in business, and they vent on their wives. That is a patterned way of getting the men out of the matter, freeing them from guilt, and shifting the blame, if not to the wife, then to an external factor. Then the men play the role of a victim themselves. When they are not seen as a rational being who is in full control of their acts, they can explain away their wrong deeds by claiming victims to their rage, their disappointment, their hot temper, their drunkenness, their greed (to earn money by gambling), or their unstable state of mind.

The play is a nice try in bringing out voices from an usually unheard group in society. I believe that when someone is empowered to speak up about her pain, the pain will subdue. However, a better contextualization is needed. If lots of Vietnamese men beat up their wives, the problem can't be blamed on one or two individual men with drinking or gambling addiction. Yet, they shouldn't be viewed to be bad inside out either. A most humane and sociological way, I think, is to place them among all the norms, beliefs and viewpoints that are so commonplace we forget they contribute a great deal to our daily activities. The men, even when they are perpetrators, shouldn't be separated from their social context. No one would beat their wives if they know, and sincerely believe that it's wrong. They must have some reasons and justifications for their acts. To dig deeper into these underlying assumptions and norms will require even more efforts, time and efforts. Meanwhile, at least the play "Inviting myself to hope" has achieved its main goal of spreading the message, because at the debut show the Youth Theatre's 600 seats were filled.

 * Centre of Studies and Applied Science for Gender - Family - Women and Adolescence

Thứ Tư, 13 tháng 6, 2012

Tháng sáu bị đóng đinh bằng những câu thơ. 

Của Nguyên Sa:


Tháng sáu trời mưa, trời mưa không ngớt

Trời không mưa anh
cũng lạy trời mưa
Anh lạy trời mưa
phong toả đường về
Và đêm ơi xin cứ
dài vô tận



Của Đỗ Trung Quân (của một thời đã xa, đã qua, đã mất) - những câu thơ lãng đãng và không thể nói là không dễ thương, nhất là với những cô cậu học trò, sinh viên...




Tháng sáu, mưa...
Giá

Thứ Hai, 11 tháng 6, 2012


Có một bữa ngồi nghĩ hình như các nhà văn thường có nhiều vợ. Muốn kiểm chứng lại, bèn ghi ngẫu nhiên tên mười nhà văn yêu thích, gồm Akutagawa, Auster, Carver, Dostoievsky, Fitzgerald, Hemingway, Kawabata, Mishima, Pamuk, Steinbeck, rồi lên wiki kiểm tra lại đời tư các ông. Kết quả như sau:




Akutagawa: Một vợ. Tự sát bằng thuốc ngủ.


Paul Auster: Vợ thứ hai là Siri Hustvedt, cũng là một nhà

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012

Mây là mây ơi
Suốt ngày rong chơi
Chẳng bao giờ nghỉ
Lãng du khắp trời

Lục lam chàm tím
Trắng xanh đỏ hồng
Là mây mây đó
Lững lờ trên không

Từng giọt lộp bộp
Mưa gọi ríu ran
Thân phận mây nhỏ
Tan hợp, hợp tan

Mây mãi lang thang
Chân trời góc bể
Em ngắm, em kể
Thêu thành ước mơ

Lớp 6, lần đầu tiên viết thơ đăng báo, chẳng nhớ đầu đề là gì, đại loại tứ thơ đầu tiên vang lên trong đầu là "Mây là mây ơi" bắt chước ca dao "Trâu ơi ta bảo trâu này"

Rồi viết thành một bài thơ ngăn ngắn bốn khổ, đến bây giờ chỉ còn nhớ ba. Một khổ ở giữa không hiểu sao không tài nào nhớ lại được. Những bài đăng báo lần sau lần nào cũng giữ lại, thế mà bài đầu tiên lại vứt mất. Sau khi được đăng báo bố mẹ mở một trận ăn khao linh đình. Con bé được tặng mấy quyển sổ, mở đầu cho rất nhiều năm về sau suốt ngày được tặng sổ, sách và bút

Hôm nay đi về nhà, mệt phờ râu sau một tuần làm việc chẳng có ngày nghỉ. Nhớ lại bài thơ cũ. Tư nhiên ngộ ra, cái hồi 11 tuổi mình đã nghĩ đến tên mình, là mây, và là một thực thể vô định, bay chẳng bao giờ nghỉ cơ mà. Năm 18 tuổi lần đầu tiên được đi máy bay, cảm xúc chới với đến nỗi vừa đi vào phòng chờ một mình đã trào nước mắt, và nhìn mây từ trên cao xuống, mới thấy mây và biển chẳng khác gì nhau, và khi thay đổi điểm nhìn, không còn gì là cao thấp, cũng chẳng còn ranh giới. Không còn để bấu víu, ngoài những đám mây cứ trôi lững lờ mãi ngoài kia.

Có khi là mệnh rồi cũng nên. Thế là phải Đi, mặc dù không phải là nam nhi cần thỏa chí tang bồng. Bài thơ trên chỉ có khổ đầu và khổ cuối giữ lại tứ thơ của năm 11 tuổi, mọi câu chữ còn lại là của tuổi 23.

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Từ bé, tôi luôn viết "xao lãng" với chữ x - xờ xấu xa, chớ không phải "sao lãng" với chữ s - sờ sung sướng. Thế nên có lần thấy bác kia viết "sao lãng", bắt bẻ bác, bị bác mắng là không biết dùng từ điển. Mở từ điển tiếng Việt ra, ngậm ngùi thấy cả "xao lãng" và "sao lãng" đều được chấp nhận, chưa kể còn cả "sao nhãng" nữa, đành ngậm bồ hòn. Không biết đây có phải là một trong những trường hợp mà

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

Being too indulged in work is almost like going away on a long journey. Every morning I wake up with new things lining up to get done, just like in a hotel somewhere far away from home, I open my eyes and go through a mental list of places I need to visit. And I work, work, work, in a manner not much different than I would go, go, go. I couldn't stop working because I haven't finished the tasks yet. I couldn't stop moving because I haven't completed the destinations yet. I am not free. I am not home. I force myself to keep on, even as I miss reading and writing so much, just as during the trip, from time to time I miss my blanket, my pillow and my bed. Or just the sense of security both reading and lying on my bed provide me. I don't allow myself to touch a book, like I sometimes don't allow myself to taste something from home, for fear that my courage will crumple. Yet, right now, as I am typing these lines, I feel like being home. At last, I have allowed myself to return to a place I belong to.

Accepting a few jobs at once is like going on a very long journey - I told myself not too long ago. I was missing a slow pace of my unemployed days, when I could lie on my bed reading a book past midnight, sleep in and watch interesting documentaries on various religions. But more than anything, I miss being able to stop. To think. I couldn't think much while all I could care about was meeting deadlines before the next one shows up. While I am on a backpacking trip, one day is not much different from the next, in the sense that I will go to a new place, eat new food, probably meet new people, and move on. While I am doing many things at the same time, one day is exactly the same as the next. I will do a new task, earn new money, probably meet new people, but the next day I will repeat the process. I can't stop, even to absorb a bit of an old destination. And while I was overwhelmed with a heavy workload, I didn't have a moment to reflect in depth about all the stuffs that happening around me.

May was a crazily intense month for me. I worked a few jobs, and traveled to a few provinces at the same time. For two weeks in a row, I constantly set the alarm at 3am to get up and work until 6am, got one more hour of sleep before starting a new day. By 6pm or 7pm, I finished dinner, was done for the day, and tried to work 2 more hours before I couldn't resist the bed anymore and fell asleep the moment my back touched the bed sheet. It was a short-term contract for a Dutch NGO. Long story short, I worked as a research assistant/interpreter for an action research/capacity training in organizational management, specifically in Public Health. My direct boss/co-worker is a Dutch Master student, who is lovely and wonderful to work with. We get along too well probably, always talking and laughing with each other. We even share a great fear/hatred of insect. Then, I had a few big orders of translation from UNDP and CIDA at the same time, which kept me occupied every waking moment possible when I wasn't talking/travelling/interpreting/eating. Yet after a month working with 6 different organizations, among which 5 are Community based organizations, I still prefer knowing people on an individual scale, rather than as a role in an organization. I still love personal stories, and even though organizations have their stories (or dramas) too, I don't find them as attractive.

Moreover, I had to maintain another regular side job, but I wouldn't include it as a main factor contributing to my next-to-nothing free time in May. And I managed to attend some interviews, got 4 job offers, and debated with myself to pick one. I will finish the current contract by the end of June, start my new job this Friday, and already started assisting in a new research a week ago. Probably I won't be able to resume my delayed Chinese class before the end of August. The next job is very much similar to my last official position with Bloom, but different in a few important elements, most important of which are support from local government and experience of the leader. It is also a small social enterprise, so young that it actually hasn't had legal status yet. It has a strong focus on community-tourism, and aims at creating impacts on many different aspects of life in one community, instead of just focusing on one issue, such as health, or gender, or education alone. This choice of mine makes me feel like I am always attracted to a same thing, again and again. Or to be more precise, I can be attracted to many handsome guys (other big NGOs and a corporation who also offer me jobs with amazing benefits) but I keep ending up with the one that is very similar to that guy who I left but with a broken heart not too long ago.

My what-is-my-purpose-in-life, post graduation and post first job resignation crisis seems to be over, which doesn't necessarily mean I have resolved the ultimate question about a ultimate goal in life. But it doesn't matter that much now. I guess now Im in a motion, and as my friend/ex-boss Malte said: "As long as you are going, you will end up somewhere nice". Probably it is a good attitude for me to adopt.

I quit facebook, mostly because those I actually care about don't make themselves heard much on facebook, and those who do update their profiles often are those I don't really want to know if they don't have anyone to talk to at 1am or if it is raining outside. When I was in Canada, facebook was more than a social network for me, it was actually a source of information about a world that I can't be in physically but often longed for. One year after I came back, I no longer have such an urge to update about that distant world, because I am here already. Perhaps I have grown out of it, but I guess mostly it's because I feel satisfied now with about 5-10 people that I make effort to keep in touch and meet in person. Then one day, I deactivated my account and haven't been tempted to reactivate it, even though facebook has tried to lure me many times. It scares me to think how such a passionate lover can grow distant, lose interest and one day cut loose all strings like what I did to facebook, though. The only inconvenience is I have to tell same things to about 6-8 people who actually care about me and are curious to know what I have been doing (you know who you are, and please know that more than once, you warm my heart by making me feel like Im missed). I am tired of doing this, really, especially when I don't have much time or the energy to go into details about my life. But other than that, I think without facebook I live more in the moment, save more time, concentrate better (though I didn't sit by my laptop that much the past month so I can't really testify that). However sometimes I do feel like sharing some short expressions of my feelings, or emotions, or thoughts, whatever, but don't know where to turn to. Then the urge fades. And I am fine again.

I bought a jasmine, a lime, a chili plants last Saturday, and grew a bunch of herbs. I already have lots of jasmine flowers now, chilies flowers are blossoming and little new green chilies are appearing, the lime doesn't look very good, but today my herb seeds have started sprouting and my onions are growing new leaves. That, I think, is pure happiness. I love watching things grow. I guess it makes me feel like I can Create. I can start life. Just thinking how "creative" actually means "full of" the act of creation. A creator, I am.

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Bức tượng sư tử mình người màu trắng bé xíu, chỉ cao hơn 8 cm, cực hiếm với 5.000 năm tuổi từ nền văn minh Mesopotamia cổ xưa được bán ở New York với giá 57,2 triệu USD, lập kỷ lục ở cả hai lĩnh vực điêu khắc và đồ cổ.

Lưỡng Hà là tên gọi của một vùng địa lý và của một nền văn minh ở nơi gồm lãnh thổ Iraq, đông Syria, đông nam Thổ Nhĩ Kỳ, và tây nam Iran hiện đại. Tên gốc của nó xuất phát từ tiếng Hy Lạp μέσος "giữa" và ποταμός "sông", để chỉ hai vùng châu thổ sông Euphrates và sông Tigris cũng như vùng đất nằm giữa chúng. Tương tự, trong tiếng Ả rập nó được gọi là بين نهرين Bayn Nahrain "giữa hai con sông". Vùng địa lý được cung cấp nước từ hai con sông đó thường được gọi là "Cái nôi của Văn minh", bởi chính tại đây những xã hội tri thức đầu tiên đã phát triển từ cuối thiên niên kỷ thứ 4 trước Công Nguyên. Từ Lưỡng Hà (mesopotamia) đã được tạo ra trong giai đoạn Hy Lạp và không hề có biên giới rõ ràng xác định vùng này, để chỉ một vùng địa lý rộng lớn và có lẽ đã được người Seleucid sử dụng. Vùng này đã từng trở thành một tỉnh của Đế chế La Mã trong một thời gian ngắn ở thời Trajan, với tên gọi Provincia Mesopotamia. Các nhà học giả đã cho rằng thuật ngữ biritum/birit narim trong tiếng Akkad tương ứng với một khái niệm địa lý và đã xuất hiện ở thời vùng này đang trải qua giai đoạn Aramaic hoá. Tuy nhiên, một điều cũng được nhiều người chấp nhận rằng những xã hội Lưỡng Hà sớm đơn giản chỉ phản ánh toàn bộ những vùng bồi tích, kalam trong tiếng Sumer (dịch nghĩa "đất đai"). Những thuật ngữ gần đây hơn như "Đại Lưỡng Hà" hay "Lưỡng Hà Syria" đã được chấp nhận với nghĩa chỉ một vùng địa lý rộng hơn tương đương vùng Cận Đông hay Trung Đông. Những tên khác sau này đều là các thuật ngữ do người Châu Âu đặt cho nó khi họ tới xâm chiếm vùng đất này vào giữa thế kỷ 19.
Tác phẩm Guennol Lioness này được chạm khắc tinh xảo, chỉ cao hơn 8 cm. Theo nhà đấu giá Sotheby’s, nó được xem là một trong những kiệt tác còn lại của nền văn minh Lưỡng Hà đang được lưu giữ bởi các nhà sưu tập tư nhân.


 Hai chuyên gia mua bán đồ cổ Richard Keresey và Florent Heintz nói rằng thật là vinh dự cho họ khi được cầm tượng Guennol Lioness, một trong những tác phẩm nghệ thuật cực hiếm của mọi thời đại. Một nhà am hiểu về hội họa, điêu khắc đã cho họ biết là ông luôn quan tâm đến dáng vẻ của “bức tượng đẹp nhất trên trái đất” này. 
 Tại cuộc đấu giá đầu tháng 12-2007, đã có 5 người đặt giá tranh nhau mua tác phẩm điêu khắc này, trong đó có 3 người gọi đến bằng điện thoại và 2 người có mặt tại phòng đấu giá. Người đã thành công trong việc mua tượng Guennol Lioness muốn được giấu tên và ta chỉ biết đó là một người Anh. 
 Tượng Guennol Lioness đã phá kỷ lục về giá của tác phẩm điêu khắc mà tác phẩm Tete de Femme (Dora Maar) của Picasso đã lập được hồi tháng 11 tại phiên đấu giá của Sotheby’s ở New York với số tiền 29,1 triệu USD. Guennol Lioness cũng đánh bại mức giá 28,6 triệu USD - kỷ lục của Artemis and the Stag, một đồ cổ bằng đồng với 2000 năm tuổi do Sotheby’s đưa ra đấu giá ở New York hồi tháng 6. 
 Tượng Guennol Lioness đã từng được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Brooklyn, New York. Nhỏ về kích cỡ nhưng lại lớn về ý nghĩa, bức tượng này là sự kết hợp của chúa sơn lâm và con người. Đầu sư tử nhìn về phía trái và tựa vững chãi trên một thân người đầy cơ bắp nổi cuộn. Các chuyên gia cho rằng “nhân vật” này có lẽ đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống tín ngưỡng cổ xưa của xứ Mesopotamia.
(Wikipedia - AFP)

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

Trong nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam, từ những tượng cổ điển ở thời Lý, đến loạt tượng Phật - tượng Tổ - tượng Hậu thế kỷ XVI -XVII với nhiều tác phẩm đặc sắc trong các chùa là sự khẳng định tài năng của nghệ sĩ Việt Nam. Thế kỷ XVIII ít có điều kiện cho điêu khắc phát triển, song là sự tích tụ âm ỉ của những kỳ tài Nguyễn Công Huệ, Tô Phú Vượng, Hoàng Đình Ưc và Đào Thúc Kiên. . . để đến thời Tây Sơn đã chớp cơ hội tốt nhất, sáng tạo ra những tuyệt tác "Tượng chùa Tây Phương" mà đỉnh điểm là bộ tượng "Tây thiên thập bát tổ" (西天十八祖) mà chúng ta quen gọi là 18 vị La Hán chùa Tây Phương.

Năm 1632, vào đời vua Lê Thần Tông, một ngôi chùa được xây dựng thượng điện 3 gian và hậu cung cùng hành lang 20 gian. Khoảng những năm 1657-1682, Tây Đô Vương Trịnh Tạc lại cho phá chùa cũ, xây lại chùa mới và tam quan. Đến năm 1794 dưới thời nhà Tây Sơn, chùa lại được đại tu hoàn toàn với tên mới là "Tây Phương Cổ Tự" và hình dáng kiến trúc còn để lại như ngày nay.
Hệ thống tượng "Tây thiên thập bát tổ" (Các vị Tổ kế đăng) ở chùa Tây phương trước 1943 và ngày nay bày có khác nhau, song cơ bản được tập trung ở toà chùa trong của khu Tam Bảo, vì thế toà chùa này mang tính Hậu đường hơn là chùa Thượng.
Không rõ trước kia tượng các vị Tổ được bày theo hệ thống nào, hiện nay không bày theo trật tự kế đăng nhưng cũng không quá lộn xộn. Trừ Tổ thứ 1 Ca Diếp Tôn giả và Tổ thứ 2 A Nan Đà tôn giả bày ở Phật điện chính trong bộ tượng "Nhất Phật Nhị tôn giả", các Tổ khác được bày ở gian bên của toà chùa trong, do tượng có pho đứng pho ngồi đã gây được nhịp điệu vui mắt, có vươn lên, có dàn trải với quãng cách khác nhau.
Hệ thống tượng Tổ kế đăng ở chùa Tây Phương có 18 pho là 18 cá thể, mỗi người một dạng vẻ, một tư thế, ai nấy có cuộc sống riêng biệt rất sắc nét, tất cả đều sống động. Đối chiếu những tượng này với hình vẽ trong thư tịch cổ "Thiền uyển kế đăng lục" soạn từ thời Lê Trung Hưng thì hầu hết có bố cục giống nhau, chỉ một ít tượng khác hẳn bố cục song vẫn đồng nhất về cái chung và nhất là ở những chi tiết đặc thù. Vì thế qua nhận diện có thể khôi phục chính xác tên và xây dựng lai lịch cho từng nhân vật. Bám theo hình mẫu trong thư tịch cổ, nhấn mạnh tính cách cá nhân, các nhà điêu khắc xưa đã sáng tạo được những tác phẩm điêu khắc mang đậm chất chân dung, chẳng những nắm bắt cấu tạo cơ thể chính xác, mà còn đi sâu vào cuộc sống nội tâm của nhân vật, đảm bảo được cả hai mặt của loại hình tác phẩm chân dung là giống và sống, cái giống ở đây là chất người của nhân vật đã tạo thành mẫu hình ổn định trong ý thức người xem. Các vị Tổ đều là người Ấn Độ, song ở chùa Tây Phương tượng các vị đã được các nghệ nhân Việt Nam sáng tạo mang phong cách riêng của nghệ thuật truyền thống Việt Nam. Chúng ta gặp ở đây sự xum họp của những lớp người Việt đang sinh sống trên mọi miền quê đất nước. Nó đạt tính dân tộc ở thời điểm ra đời, và giữ mãi tính dân tộc ấy để đóng góp một diện mạo Việt Nam vào kho tàng nghệ thuật tạo hình thế giới.

Bộ tượng "Tây thiên thập bát tổ":

Tổ thứ 1: Ma-ha-ca-diếp (摩訶迦葉 mahākāśyapa)

Ở chùa Tây Phương, tượng Ca Diếp hiện đứng ở bên trái tượng Tuyết Sơn, là một người tuổi cao, ăn mặc nghiêm chỉnh, ánh mắt tinh tường, khoát tay ở thế chém . Đây là một pho đậm chất chân dung, đặc tả cả dung mạo và tính cách.

Gọi tắt là Ca Diếp nghĩa là uống ánh hào quang nên còn gọi là Ẩm Quang. Trong một kiếp xa xưa, Ca Diếp đã giúp cô gái tán cục vàng để thếp lên chỗ tượng Phật bị bong, vì thế liền 91 kiếp thân 2 người đều có màu vàng ròng. Trước khi khuất gia, ông làm thợ kim hoàn, rất sành tuổi vàng ròng. Là con một gia đình Bà La Môn, song ông quyết xả bỏ dòng dõi để tu theo Phật trở thành người nêu cao đạo lớn. Khi Đức Phật Thích Ca ở núi Linh Thúy, một hôm giơ bông hoa cho mọi xem. Hàng trăm vạn người không hiểu ý, chỉ một mình Ca Diếp hiểu ý, rạng rỡ mỉm cười. Đức Phật bèn nói: "Ta có chính pháp nhãn tạng, nay trao cho ông Diệu pháp Niết bàn", phong ngài làm Tổ sư đầu tay cai quản Giáo hội Tăng già. Sau khi Đức Phật nhập diệt, ngài gõ chuông tập hợp chúng tăng kết tập ba tạng kinh điển tiểu thừa. Khi A Nan chứng quả A La Hán, ngài truyền cho y bát .

Tổ thứ 2: A-nan-đà (阿難陀 ānanda)

Theo quy định của bài trí Phật điện, A Nan phải được bày sóng đôi với Ca Diếp trong bộ tượng "Nhất Phật nhị tôn giả", đáng ra ở bên phải Tuyết Sơn thì trong một lần bày lại đã tiến lên hàng trước đổi chỗ cho Đại Diệu Tường. Do tượng Ca Diếp đứng nên với tính sóng đôi A Nan cũng được tạc ở thế đứng với hình dáng chung nuột nà, trẻ trung, đang kết tập kinh tạng (ôm sách), ánh mắt và khóe miệng cùng cười vui vẻ. Nụ cười hể hả biểu hiện bản chất của nhân vật đã trở thành tên gọi. Tượng được tạo dáng đứng thẳng chững chạc, những nếp áo chảy sóng càng làm tượng vươn lên trong khối chung óng nuột, tỷ lệ các phần cân đối, cả hình dáng và nội tâm đều sáng láng. 

A Nan, nghĩa là vui mừng, là Hoan Hỉ, Khánh Hỷ. Ngài là em thúc bá của đức Phật sinh vào đêm phật thành đạo, 25 tuổi xuất gia và theo hầu bên đức Phật suốt 25 năm liền, được thụ trì tất cả Phật pháp, là người đa văn (hiểu biết ) số một. Ngài có hâù bên Phật lúc cuối cùng, được Phật truyền cho những giáo điều sau rốt và cách giữ gìn đạo lý.
Sau khi đức Phật nhập diệt, Tổ thứ 1 Ca Diếp tổ chức kết tập kinh tạng, ANan phiền não chưa hết nên chưa chứng được quả La Hán. Tổ Ca Diếp bên dắt ANan ra ngoài Hội nghị để ngồi thiền. Đến cuối đêm mệt mỏi A Nan định nằm nghỉ, nhưng đầu chưa chạm gối thì bỗng nhiên giác ngộ thành Đại A La Hán. Ngay khi ấy, ngài gõ cửa Hội nghị xin vào tham gia, Bồ Tát tạng tập hợp ở một nơi, Thanh Văn tạng tập hợp ở một nơi, Giới Luật tạng cũng tập hợp ở một nơi ‘’. Lần đầu tiên kinh văn xuất hiện do A Nan soạn.
Sau khi Ca Diếp nhập tịch, A Nan được truyền làm Tổ thứ 2. Khi A Nan mệnh yểu nhược, ngài vắt chân ngồi yên trên dòng sông Hằng cứ nhè giữa dòng mà đi vào cõi Niết bàn.


Tổ thứ 3: Thương-na-hòa-tu (商那和修 śānavāsin)

Thương Na Hòa Tu còn gọi là Thương Nặc Ca Phoọc Sa, xuất phát từ loại cỏ thiêng và một loại áo lạ gọi là Thương Na hay Thương Nặc Ca. Khi nào có bậc thánh nhân ra đời thì loại cỏ này ứng nghiệm từ đất sạch mọc lên báo trước. Khi còn ở kiếp trước, ngài đã lấy loại cỏ thiêng này tết thành áo. Ngài ở trong bụng mẹ những 6 năm mới sinh hạ, sinh ra đã có áo mặc sẵn theo thân, thân mình cao lớn dần thì áo mặc cũng rộng lớn theo cho phù hợp. Khi ngài xuất gia thì áo đó trở thành pháp phục, khi ngài thụ cụ túc giới thì áo đó biến thành áo cà sa 9 mảnh, khi sắp tịch ngài nguyện để lại áo cho đến khi đạo pháp của đức giới Thích Ca huyền tận thì áo mới bị mục nát. Do đó tên cỏ và tên áo trở thành tên người.
Ngày trước khi Thích Ca đi hoằng dương đạo pháp có đến xứ sở của ngài, thấy dải cây xanh um, mới nói với A Nan rằng: ". . . Sau khi ta tịch diệt 100 năm sẽ có một vị tăng nhân tên là Thương Na Hoà Tu truyền bá giáo pháp của ta ở đây". Nay quả đúng như thế.
Thương Na Hoà Tu sau khi chứng ngộ quả pháp, có lần đi giáo hoá chúng sinh đã tìm được Ưu Ba Cúc Đa, cho xuống tóc làm thị giả. Một lần ngài hỏi Ưu Ba Cúc Đa về tuổi đời và tâm tính, được đáp: "Thân con 17 tuổi nhưng tính tình chăớng phải 17 đâu". Đây là vấn đề hiện tượng và bản chất thuộc triết học, nói chung thì phù hợp nhưng không phải lúc nào cũng phù hợp. Sau khi dặn Ưu Ba Cúc Đa chớ sao nhãng làm đứt đoạn đạo pháp, ngài vào núi ở ẩn nhưng vẫn thiền định theo dõi và nhắc nhở. Khi các tăng chúng chứng được quả A La Hán, Thương Na Hoà Tu bèn hiện 18 ban biến hoá đi vào ánh lửa Tam muội để tự thiêu, xá lị nhập tháp.

Trong chùa Tây Phương, tượng Thương Na Hoà Tu bày ở gian bên phải toà chùa trong là một ông già luôn lo toan, ngồi chân thõng chân co vắt ngang, một tay để trên đùi còn tay kia thu trong bọc, áo mặc nhiều nếp lượn để hở bộ ngực gầy giơ xương. . . đôi mắt xụp, miệng mím, ít nói nhưng nghĩ nhiều. . . đã tạo nên một ông già khắc khổ, sống bằng nội tâm.

Tổ thứ 4: Ưu-bà-cúc-đa 優婆掬多 upagupta

Ưu Ba Cúc Đa nghĩa là Cận Tàng, ra đời khi đức Phật nhập diệt được 100 năm. Ngài thân tuy không đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Phật, nhưng ngài tinh tấn mà làm Phật sự. Từ năm 12 tuổi ngài đã bộc lộ rõ sự thông minh. Hàng ngày mỗi khi nghĩ việc xấu thì bỏ một viên đá đen vào bao, còn nghĩ việc tốt thì bỏ vào viên đá trắng. Lúc đầu đá đen nhiều, đá trắng ít, rồi dần đá đen và đá trắng bằng nhau, về sau không có đá đen chỉ toàn đá trắng, bấy giờ ngài đã vững vàng. Năm 17 tuổi ngài xuất gia, năm 20 tuổi đã chứng được quả. Ngài hay vân du để xiển dương Phật pháp, độ được rất nhiều người. Điều đó khiến ma quỉ lo sợ và tìm mọi cách quấy phá. Nhờ pháp thuật cao, ngài hàng phục được cả ma. Khi thuyết pháp, cứu độ được cho một người, ngài lại cất một thẻ tre vào nhà đá. Về sau có Hương Văn xin xuất gia. Qua trao đổi, biết hương Văn đã ngộ được đạo, ngài làm lễ xuống tóc cho và trao cho giới thanh văn, lại bảo: "Phụ thân người nằm mộng thấy mặt trời chói lọi sắc vàng, liền đó sinh ra người, vậy nên đặt pháp danh là Đề Đa Ca".Truyền đạo xong, ngài ngồi yên trên pháp toà, tự nhiên hoá, Xá lị được xây tháp để thờ.

Tượng Ngài ở chùa tây Phương đặt ở góc sau bên phải toà chùa trong thể hiện ngài là một người độ lượng, ham học hỏi, ham giúp đời. Ngồi nhấp nhổm trên gót chân trái quỳ gập lại, còn chân phải gấp chống làm điểm tựa cho bàn tay cầm một vật nhẹ (bút hay thanh tre? - đã bị mất), tay bên kia cầm thẻ tre, người dướn lên, đầu nhô cao, mình mặc 2 lớp áo dài xoà trùm xuống đất. Tượng có đầu to tròn, trán cao, hói quá đỉnh biểu hiện sự thông minh; lông mày to rộng cùng với bộ râu quai nón và hàng ria mép là những vệt đen đậm làm nổi đôi mắt tròn sáng mở to nhìn xa rất chăm chú, phối hợp với cái miệng chúm mở, rõ ràng là sự thuyết giảng nhũng giáo lý uyên thâm, cứ như thôi miên quán xuyến cả đám đông người nghe. Đôi tai dài, gò má đầy và cánh mũi nở càng ăn ý với những mảng khối căng tròn trên vai và đầu gối, tất cả đều biểu đạt sự sung mãn mà ngay khi xuất gia tâm tính đã vượt xa 17 tuổi đời. Bộ ngực chỉ lộ một mảng nhỏ hơi hằn nổi xương sườn, cùng với các mảng khối da thịt khác sáng láng là sự tráng kiện của tuổi trung niên. Pho tượng đơn chiếc nhưng người chiêm ngắm lại cứ mường tượng có đám đông chúng sinh phía trước cùng hướng về nơi Tổ ngồi. Đây là một pho tượng rất thành công trong sự cân đối và sống động.


Tổ thứ 5: Đề Ca Đa 提多迦 dhītika

Tên tục là Hương Văn (hay Hương Trượng), khi xuất gia được sư phụ đặt pháp hiệu Đề Đa Ca nghĩa là thông chân lượng, biểu hết thảy vì khi được hỏi rằng: "Thân người xuất gia hay tâm người xuất gia?" đã trả lời: "Tôi xuất gia chẳng vì thân cũng chẳng vì tâm. Không sinh không diệt là cái chân thường của Đại Đạo, chư Phật cũng là thường đạo. Tâm không hình tướng, thể cũng vậy?
Khi ngài mới sinh ra, ông bố nằm mơ thấy 1 mặt trời chói lọi sắc vàng từ trong nhà bay ra chiếu khắp trời đất, phía trước có toà núi lớn, khắp núi là những thứ chân bảo hoa mĩ, đỉnh núi có khe nước trong vọt ra phân thành 4 nhánh chảy réo rắt. Khi biết chuyện, Ưu Ba Cúc Đa giải thích: Núi báu kia là thân thể ngươi, suối nước là chỉ pháp Phật vô tận, mặt trời là sự nhập đạo của ngươi để rồi rọi chiếu trí tuệ đến mọi người.
Đề Đa Ca sau khi nhận y bát của Ưu Ba Cúc Đa để làm Tổ thứ 5 đã phụng trì không biếng trễ. Một lần đến miền trung Âấn Độ, Di Giá Ca đem 8 ngàn Đại tiên đến nghênh đón. Xa xưa 2 người là đồng học, rồi một tu đạo Tiên một tu thiền định, đã qua 6 kiếp nay lại gặp nhau. Đề Đa Ca thọ giới cho Di Giá Ca, lại vận thần thông để tất cả các vị Tiên đều xin xuất gia. Sau đấy Đề Đa Ca đem thanh tịnh pháp nhãn truyền lại cho Di Giá Ca làm Tổ thứ 6

Ở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 5 Đề Đa Ca được bày ở bên trái Tổ thứ 4, ở thế ngồi , hai tay đưa trước ngực. Toàn bức tượng tạo thành một khối chóp đóng kín, đường viền rõ ràng, mảng khối óng ả, các nếp áo chảy song hành dễ dàng, tất cả như gợi lại điềm lành khi sinh, nhưng khuôn mặt đăm chiêu như có sự vướng mắc chờ đợi người xứng đáng để trao truyền y bát, do đó gợi khoảng không mênh mông tuyệt đối.

Tổ thứ 6: Di-Giá-Ca (彌遮迦 miśaka )

Di Giá Ca sau khi trở thành vị Tổ thứ 6 đã đi giáo hoá nhiều nơi. Một hôm thấy trên thành có mây lãnh sắc vàng bèn bước vào, đến chợ gặp người cầm chén rượu chặn hỏi. Sau những câu thăm dò, Tổ bảo người kia nói rõ họ tên sẽ cho biết nguyên cớ. Được biết đó là Bà Tu Mật họ Phả La Đọa, Di Giá Ca liền bảo: "Thầy ta là Đề Đa Ca có nói rằng xưa đức Thế Tôn vân du đến miền Bắc Âấn, đã nói với A Nan rằng: Sau khi ta tịch diệt chừng 300 năm, xứ này sẽ sinh bậc thánh nhân họ Phả La Đoạ tên Bà Tu Mật làm vị Thiền Tổ thứ 7. Đức Phật đã biết trước, vậy nay ngươi nên xuống tóc xuất gia". Bà Tu Mật cũng cho hay: Trong một kiếp xưa có cúng giàng, được Như Lai bảo ở đời Hiền kiếp sẽ thay ngài xiển dương chính pháp, vậy nay xin Đại sư cho được xuất gia. Tổ bèn thu nhận, và về sau trao truyền cho Phật pháp để làm Tổ thứ 7. Tổ nhắm mắt đi vào cảnh giới giải thoát, vọt vào hư không rồi lại trở về pháp toà làm ngọn lửa tự thiêu, xá lị để vào tháp.

Ở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 6 Di Giá Ca được đặt ở giữa Tổ thứ 3 và Tổ thứ 5, thế đứng chững chạc, mặc áo dài nghiêm túc, đang trong sự ngỡ ngàng tìm hiểu điều gì đó, tay phải thu trong bọc còn tay trái như bấm đốt lần tính, khuôn mặt có vẻ bàng hoàng ngơ ngác, cả mắt và miệng đều đang thăm dò với động thái hấp háy khó nói rõ. Và như thế, người xem cảm nhận phía trước Tổ có cảnh lạ hay ai đó đang đối thoại. Tượng có dáng vẻ bình tĩnh song nội tâm lại động rộn.


Tổ thứ 7: Bà Tu Mật ( 婆須密 vasumitra, còn gọi là Thế Hữu)

Bà Tu Mật vốn là người thích ăn mặc sạch sẽ, tay không rời chén rượu, thường du hành trong đám dân quê, hay ngâm thơ và lớn tiếng ca hát. Người ta cho ngài là người cuồng. Khi được Tổ thứ 6 tuyên giảng về tiền duyên, Bà Tu Mật bỏ rượu và xin xuất gia. Sau khi tiếp thừa y bát trở thành Tổ thứ 7, ngài hay đi các nơi giáo hoá chúng sinh. Một hôm có kẻ trí đến gặp, xưng tên là Phật Đà Nan Đề, muốn được cùng bàn về nghĩa cả, nhưng khi biết Tổ thứ 7 hơn hẳn một cái đầu, thì tình nguyện xin theo để cầu chính pháp.
Sau khi xuống tóc và trao giới thanh văn cho Phật Đà Nan Đề, ngài nhắc phải chuyên tâm hộ trì.
Khi Tổ đi vào chốn từ tâm Tam muội, các chư Tiên đều xin Tổ mở cho con đường giải thoát. Tổ bèn hướng về phía quần Tiên đọc:

Pháp mà ta ngộ được
Thời chẳng phải có pháp
Muốn ngộ được Phật tính
Hãy bỏ cả có - không.

Đọc xong Tổ đi vào cảnh giới niết bàn.

Hình Tổ thứ 7 Bà Tu Mật được vẽ trong các thư tịch cổ và tạc thành tượng ở chùa Tây Phương đặt ở bên trái Tổ thứ 3 gần như tương đồng: Tổ là người cao tuổi, rất chú ý đến trang sức, đầu tóc buộc dây và chải mượt, mặc áo tĩnh y với những nếp gấy chảy nuột, chân giầy, cổ tay đeo vòng, đứng thẳng, ngửa mặt lên trời, miệng há vừa như chào đon đả hay đọc kệ, hai tay chắp lại đưa lên ngang mặt thi lễ, mắt lim dim. . . hẳn nghệ sỹ xưa muốn diễn tả giây phút cuối đời của Tổ đang truyền kệ cho các chư Tiên. Là tượng đơn, song chiêm ngắm Tổ, người xem cảm được cả một tập thể mà Tổ đang giao tiếp. Hình ảnh Tổ được nghiên cứu rất kỹ để từng chi tiết phối hợp lại bộc lộ rõ tính cách lịch thiệp, trang trọng, ngoại hình gắn bó chặt chẽ với nội tâm.


Tổ thứ 8: Phù Đà Nan Đề ( 浮陀難提 buddhanandi) hoặc Phật-đà-nan-đề (佛陀難提)

Tổ có nhục kháo trên đầu, có tài biện luận, giỏi ăn nói, sống thoải mái. Khi biết Tổ thứ 7 đến nước mình, ngài chủ động tìm gặp, tự giới thiệu và xin cùng luận bàn nghĩa cả. Sau khi được Bà Tu Mật trao truyền giáo Pháp làm Tổ thứ 8, đã đi vân du khắp nơi để xiển dương chính pháp.
Một lần thấy trên nhà nọ toả ra thứ ánh sáng trắng kỳ lạ. Tổ nói với các đồ đệ: "Trong nhà ắt có thánh nhân có thể hoằng dương Phật pháp. Người này chưa hề nói và đi đâu vì không muốn tiếp xúc với ô uế bên ngoài". Chủ nhà ra mời Tổ vào và nói rõ: "Con trai tôi là Phục Đà Mật Đa đã 50 tuổi mà chưa nói một lời, chưa đi một bước". Tổ nhận ra đây là người mình cần tìm, thì Phục Đà Mật Đa cũng bước ra thi lễ, đọc kệ nói lên công ơn cha mẹ khó đáp đền và tâm nguyện muốn đi tìm đạo, sau đó đi 7 bước.
Sau khi nghe Tổ giải thích, vị trưởng giả chủ nhà quyết định xa con, để Phục Đà Mật Đa theo Tổ làm đầu đà. Không bao lâu, Phật Đà Nan Đề trao truyền thanh tịnh pháp nhân cho Phục Đà Mật Đa làm Tổ thứ 9.

Tượng Tổ thứ 8 ở chùa Tây Phương bày ở các góc ngoài phía bên phải toà chùa trong, là một người béo tốt, ngồi bệt, chân phải xếp bằng, chân trái chống nghiêng, tay trái để trên đùi, tay phải đang ngoáy tai. Cả pho tượng thể hiện sự căng nây, óng ả, mặt hỉ hả, đôi mắt hóm hỉnh, miệng cười dễ dãi, khuôn mặt sáng sủa, tất cả toát lên sự thông minh, mềm mỏng, nói khéo, dễ gần. Đây là pho tượng đặc biệt sống động, dù cái que bị mất vẫn luôn gợi động tác ngoáy tai, ngoài sự kích thích còn biểu hiện sự giao tiếp và ứng xử văn hoá uyên bác.

Tổ thứ 9: Phù-đà-mật-đa ( 浮陀密多 buddhamitra) hoặc Phật-đà-mật-đa (佛陀密多)

Phục Đà Mật Đa tuy 50 năm liền không nói không đi nhưng không phải là bệnh lý mà là muốn giữ mình trong sạch. Ngay cả khi gặp Tổ thứ 8 Phật Đà Nan Đề, ngài đã có những biểu hiện như khi đức Phật ra đời là đọc bài kệ và đi 7 bước, khiến Tổ thứ 8 nhận xét về ngài: "Vị Tiên sinh này kiếp xưa chắc đã gặp Phật Tổ, có tâm nguyện sâu rộng, nhưng khó báo ân nghĩa mẹ cha". Ngay sau khi nhận sự phó thác của Phật Đà Nan Đề, ngài đã tán tụng công đức sư phụ:
Thầy ta là Tổ thứ Tám
Đem Phật pháp dạy dỗ quần sinh
Khiến ai cũng được A Na Hàm đắc quả.
Là Tổ thứ 9, Phục Đà Mật có lần đi giáo hoá đã gặp ông Hương Cái dắt theo đứa con nhỏ đến và nói: "Con tôi từng ở trong bụng mẹ 60 năm, do đó khi sinh ra khó mới đặt tên là Nan Sinh. Có vị Tiên đã phán bảo sau này nó sẽ thừa truyền sự nghiệp cao cả. Nay xin Tôn giả thu nhận nó làm đệ tử". Được thụ giới Tổ thứ 9, Nan Sinh khi hành đạo có hào quang toả sáng Pháp toà, long lanh như xá lị Phật. Về sau Phục Đà Mật Đa trao cho Nan Sinh thanh tịnh pháp nhãn để làm Tổ thứ 10. Truyền pháp xong, Phục Đà Mật Đa thiu thiu đi vào cảnh giới Niết bàn giải thoát, xá lị để trong tháp.

Tượng Tổ thứ 9 Phục Đà Mật Đa được bày ở bên trái Tổ thứ 8, tả cảnh Tổ đang ngồi tựa mỏm đá, mặc áo nhiều nếp nhăn, để hở ngực và cánh tay. Tượng được nhấn mạnh những nét gồ ghề, tạo sự già dặn từng trải pha chút hóm hỉnh như đầu nhô nhục kháo, lông mày nhíu lại tạo những vết nhăn dọc trên ấn đường, lưỡng quyền nổi cao, cánh mũi nở, miệng mở hẹp với nếp nhăn bên khoé mép, cằm bạnh, mắt sáng nhìn xuống. Tay trái ngài cầm một cuốn sách mở, tạo được sự hợp lý của khuôn mặt đang nhìn xuống sách, đọc và phát hiện những tư tưởng mới như chính ngài đặt ra khi nói câu đầu tiên: ". . . Đạo lớn kia là Đạo ta cần biết. Còn cái gì cần biết hơn Đạo kia?". Đây là tác phẩm thể hiện được một nội tâm khá phức tạp.

Tổ thứ 10: Bà-lật-thấp-bà (婆栗濕婆 pārśva) còn gọi là Hiệp tôn giả (脅尊者)

Tên tục của ngài là Nan Sinh, nhưng người đương thời gọi ngài là Hiệp tỳ kheo với nghĩa nhà tu hành không đặt lưng xuống chiếu nằm nghỉ. Truyện kể người cha nằm mộng thấy con voi trắng mang trên lưng chiếc ngai báu đặt hạt minh châu từ cửa tiến vào, toả ánh sáng đầy nhà. Khi tỉnh dậy thì Nan Sinh ra đời. Vì ngài nằm trong thai những 60 năm nên lọt lòng đã có râu và lông mày bạc trắng. Buổi đầu ngài theo đạo Bà La Môn, là nhà thông thái. Năm 80 tuổi ngài mới xuất gia đi tu, bị những người trẻ chê là ông già đần, họ bảo người xuất gia phải biết thiền định và tụng kinh, mà ông thì già yếu chỉ biết ăn no thôi. Nghe vậy, ngài phát nguyện: Nếu không thông nghĩa lý ba tạng kinh, không đoạn trừ được lòng dục ba cõi, không đắc được sáu thần thông và không đắc được giải thoát thì mãi mãi không bao giờ đặt lưng xuống chiếu. Trải 3 năm kiên trì tu luyện, ngài đã đạt được những điều hạnh nguyện.
Sau khi được Phật Đà Mật Đa truyền cho pháp bảo làm Tổ thứ 10, Hiệp tôn giả đi vân du giáo hoá chúng sinh, một lần dừng chân bên cây cổ thụ, ngài chỉ tay xuống đất nói với đồ chúng: "Đất nơi đây sẽ biến thành vàng, và khi đó sẽ có vị thánh nhân xuất hiện". Nói xong quả nhiên đất dưới chân vàng rực và có Phú Na Dạ Xà đi đến yết kiến. Hai người đàm đạo Phật pháp rất tâm đắc. Biết được Phú Na Dạ Xà đã tỏ thiền cơ, Tổ bèn thế tóc trao giới cho làm thị giả, về sau lại truyền Pháp bảo cho làm Tổ thứ 11.
Trao pháp xong, Hiệp tôn giả tiến vào cõi Niết bàn, tự hoá ra lửa thiêu thân, xá lị nhập tháp báu.

Ở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 10 Hiệp tôn giả được bày ở bên trái Tổ thứ 9 , tả cảnh ngài đang đứng tựa vào thân cây già, có nhục kháo trên đầu, râu tóc đều rất ngắn, mặt bóng bẩy hóm hỉnh, tay phải cầm quạt, còn tay trái tỳ lên cổ tay phải. Tượng được đặc biệt nhấn mạnh ở đôi mắt tròn sáng, miệng mím xít, da thịt phốp pháp mịn óng đối lập với cây khô nhiều hốc mắt, cũng biểu hiện người hay quan sát, ít nói, không nằm nghỉ đúng như tên gọi, người tinh tấn có chí, rất giàu nghị lực.

Tổ thứ 12: A-na-bồ-đề (阿那菩提 ānabodhi)  hoặc Mã Minh (馬鳴, aśvaghoṣa)

Mã Minh có nghĩa là ngựa rống, bắt nguồn từ mấy truyền thuyết khác nhau: ngài vốn là Quốc vương, trong nước ngài có một loại người sống như ngựa không mặc quần áo, ngài bèn dùng phép phân thân hoá ra vô số tơ tằm, dân phấn khích la rống lên, do đó ngài lấy hiệu là Mã Minh. Thuyết khác kể rằng ngài là vị tì khiêu có tài thuyết pháp cảm động được cả những loài phi nhân. Một lần có 7 con ngựa đói thỉnh tì khiêu thuyết pháp, nhà Vua cho người mang cỏ non đến, nhưng chúng rơi nước mắt, chỉ chăm chú nghe pháp, không tưởng gì đến ăn uống. Vì thế thiên hạ gọi ngài là Mã Minh Bồ Tát.
Mã Minh là con một nhà Bà La Môn, thông minh, hiểu biết, nổi tiếng về tài biện luận. Xưa đức Như Lai thọ ký rằng: "Sau khi ta tịch diệt 600 năm, sẽ có một vị hiền nhân ra đời tên là Mã Minh chuyên hàng phục tà giáo, có tài thuyết phục rất nhiều người xuất gia tu hành, sẽ là người truyền thừa giáo pháp của ta". Tổ thứ 11 Phú Na Dạ Xa tìm được Mã Minh, giảng giải cho về hiển giáo và Mật giáo, rồi truyền thanh tịnh pháp nhân cho làm Tổ thứ 12.
Một lần ngài đang tuyên giảng đạo pháp, bỗng có ma quỷ hiện hình thành ông già, thành người vàng rồi lại thành một cô gái đến chòng ghẹo, sau lại thành con rồng dữ lượn quẫy trong mưa gió mịt mù để đe doạ. Ngài vẫn ngồi yên trang nghiêm lấy chính pháp thu phục, khiến ma hiện lại hình người bày tỏ sự sám hối. Con ma xưng tên là Ca Tỳ Ma La, đã có 3000 đồ đệ, có thể biến được biển lớn thành suối nhỏ. Nhưng hỏi về tính chất của biển thì Ca Tỳ Ma La không biết, sau khi được Tổ giải thích đã xin quy y cùng với tất cả đồ đệ. Về sau, Mã Minh truyền thanh tịnh pháp nhãn cho Ca Tỳ Ma La làm Tổ thứ 13.

Ở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 12 Mã Minh đặt ở cuối dãy hồi trái toà chùa trong. Tượng Tồ được tạc ở tư thế ngồi, chống tay phải trên phiến đá, mặc áo trật vai trái xuống tận cánh tay để hở cả ngực và bụng, đầu hói quá đỉnh. Tồ ngồi trên lưng rồng, bình thản, thả thõng chân phải và hơi co chân trái, thân hơi ngả về sau và chống thăớng tay phải tạo thế vững vàng không mỏi, tay trái gấp vuông đưa ngang trước bụng và chỉ về con rồng. Đầu tượng tròn, cạo trọc càng nổi các khối căng đầy sức sống, tai dài chạm vai, mắt nhìn thăớng vào đối tượng cùng với miệng há biểu hiện đang tranh luận, mặt rất tươi, trên thân mình, da dẻ căng óng khoẻ mạnh. Tổ đầy vẻ tự tin, thông minh, điềm tĩnh, rất chan hoà với mọi người.

Tổ thứ 13: Ca-tì-ma-la ( 迦毘摩羅, kapimala)

Ngài vốn theo tà giáo, đã có tới 3000 đồ đệ, thông hiểu các dị thuyết, sau được Tổ thứ 12 Mã Minh khuất phục rồi lại truyền thừa y bát cho làm Tổ thứ 13. Ngài đi giáo hoá khắp nơi, một hôm nhận lời mời đến toạ thiền ở một hang núi sâu, giữa đường gặp con rắn to quấn chặt quanh mình. Nghe ngài thuyết giảng, rắn bỏ đi, khi ngài đến gần hang đá, có ông lão chắp tay thi lễ và thưa: "Tôi xưa cũng là hoà thượng, nhưng do mắng đuổi những người học đạo bị biến thành mãng xà ở hang này đã nghìn năm. Vừa rồi được nghe tôn giả thuyết giảng nên đến cảm tạ". Ông già cho biết thêm gần đây có cây đại thụ xum xuê như con rồng lớn che mát cho 500 con rồng nhỏ, gọi là long thụ vẫn thường thuyết pháp cho chúng rồng nghe. Ngài tìm đến, Long Thụ đón chào nhưng còn ngờ vực, đến khi được nghe chỉ bảo, đã cùng 500 long chúng đều xin xuống tóc đi tu. Sau đó Ca Tỳ Ma La truyền giáo pháp cho Long Thụ làm Tổ thứ 14.
Thuyết pháp xong, Ca Tỳ Ma La hoá ra ngọn lửa tự thiêu thân.

Tượng Tổ 13 ở chùa Tây Phương được đặt ở giáp tường hậu cuối gian bên trái toà chùa trong, tả cảnh Tồ đang bị mãng xã quấn quanh, nhưng Tổ vẫn điềm tĩnh: đứng thẳng vững vàng, mặt nhìn lên, đầu nổi nhục kháo, gò má cao tạo một vẻ hơi ngây, mắt mở to, miệng mím không nói gì, da thịt và mảng áo đều mịn óng. Sự đàng hoàng của Tổ khiến rắn biết gặp đối thủ cao cường phải bái phục. Đây cũng là một cách tranh đấu có nội lực mạnh, khác với điều ghi trong tiểu sử, biểu hiện sự sáng tạo của nhà điêu khắc.

Tổ thứ 14: Long Thụ ( 龍樹, nāgārjuna, cũng gọi Na-già-hạt-thụ-na 那伽閼樹那)

Ngài được bà mẹ sinh dưới một gốc cây, về sau lại nhờ loài rồng giúp mà thành đạo, do đó mang tên là Long Thụ. Ngài ra đời sau khi đức Phật nhập diệt chừng 700 năm. Tuổi nhỏ ngài đã đi khắp nơi, tìm học nhiều môn, vốn dòng Bà La Môn, sau gặp Tổ thứ 13 Ca Tỳ Ma La mới quy Phật. Ngài đã đọc và liễu thuộc nhiều kinh điển, song vẫn thấy còn có chỗ chưa đầy đủ, đã ngồi quán tưởng được Đại Long đưa xuống Long cung chép Kinh Hoa Nghiêm mang về. Ngài còn soạn ra một số bộ kinh giải về đạo lý rất rành và làm cốt yếu của Tam luận tông. Ngài còn truyền bá giáo lý Mật Tông với nhũng linh phù và châm ngôn. Long Thụ khi đi giáo hoá, đã vì mọi người mà thuyết pháp, đoan nghiêm ngồi trên pháp toà, hiện thành vầng trăng sáng, mọi người chỉ nghe tiếng mà không thấy hình tướng. Đệ tử Ca Na Đề Bà giải thích cho mọi người rằng đấy là đại sư tiến nhập vào Vô tướng Tam muội, hình như vầng trăng tròn sáng, trống rỗng hư huyền, biểu hiện ý nghĩa Phật tính. Long Thụ là một vị Tổ có danh tiếng lớn trong giới Phật học, được đương thời coi là Phật sống. Về sau ngài truyền thanh tịnh pháp nhãn cho Ca Na Đề Bà làm Tổ thứ 15.


Ở chùa Tây Phương, Tổ thứ 14 Long Thụ được đặt ở bên trái Tổ thứ 13, là vị Tổ duy nhất ngồi trên toà sen. Tượng Tổ được tạc với những đặc điểm: đầu nổi nhục kháo, gò má cao, mắt nhắm, mũi nở, cằm nhọn thể hiện một nhà hiền triết uyên bác, ngồi tĩnh lặng nhưng nội tâm sôi động, là người từng trải, khắc khổ, xem nhẹ đời thường để suy tư hoàn chỉnh kinh pháp. Con rồng ở bệ nhỏ bên trái Tổ đang đội một kệ sách, ý chừng nhắc ngài được Đại Long cho kinh Hoa Nghiêm. Đây là pho tượng thoát tục rất thành công, Tổ được xem trọng như Phật. Người xem hiểu truyện Tổ, ngắm tượng lâu sẽ thấy đường viền nhạt nhoà để chỉ còn một vầng sáng yếu, không thực không hư theo như Phật tính.

Tổ thứ 16: La-hầu-la-đa ( 羅睺羅多, rāhulabhadra)

La Hầu La Đa còn gọi tắt là La Hầu La là con trai của một nhà trưởng giả, trên cây trong vườn nhà ông cứ hàng ngày mọc ra những đoá mộc nhĩ mà chỉ riêng La Hầu La Đa nhìn thấy, hái ăn rồi lại mọc. Tổ thứ 15 Ca Na Đề Bà biết chuyện ghé thăm và giải thích: có vị tăng nhân chịu ơn cúng dường của trưởng giả đã biến thành mộc nhĩ để báo tiền duyên. Trưởng giả bèn xin Tổ cho La Hầu La Đa xuất gia theo hầu. Tổ thứ 15 bèn cho biết xa xưa đức Phật đã dự ngôn rằng sau khi ngài nhập diệt 1000 năm thì con trai ông sẽ kế thừa y bát thành Giáo chủ, vậy đây là việc tiền duyên, bèn thu nhận và xuống tóc cho làm thị giả. Về sau Ca Na Đề Bà truyền đại pháp cho La Hầu La Đa làm Tổ thứ 16.
La Hầu La Đa là người thông minh, có tài thuyết pháp. Một lần ngài vân du đến sông Kim Thuỷ thành Thất La, đã nói cho đại chúng biết rằng ở đầu nguồn có bậc thánh nhân Tăng Già Nan Đề mà xưa đức Phật đã dự ngôn rằng sau 1000 năm người ấy sẽ ở ngôi vị Tổ thứ 17. Nói rồi, ngài cho thuyền ngược lên nguồn, tới nơi thấy Tăng Già Nan Đề đang nhập định. Đủ 37 ngày ông này mới xuất định ra khỏi cơn thiền. Hai người bàn luận nhiều về nghĩa lý của sự định, tranh luận sôi nổi và kéo dài, cuối cùng Tăng Già Nan Đề tỉnh ngộ xin được xuất gia. La Hầu La Đa còn thuyết giáo nhiều cho các đồ chúng, trong đó Tăng Già Nan Đề đã giúp việc rất đắc lực, cuối cùng được truyền thanh tịnh pháp nhãn làm Tổ thứ 17. Truyền pháp xong, Tổ ngồi yên viên tịch, thi hài thờ trong tháp.


Ở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 16 La Hầu La Đa được bày ở bên phải Tổ thứ 13. Tổ ngồi trên phiến đá, hai chân thả chạm đất, cây gậy tích trượng để tựa vai do tay trái giữ không phải để tăng sự vững chắc mà chỉ nhằm nâng uy thế. Bàn tay phải xoè ra để úp trên đùi lộ rõ những móng tay dài của người trưởng giả ăn chơi, khuôn mặt hơi ngửa có vẻ ngạo nghễ, miệng mím với môi mỏng biểu hiện tài nói năng trơn tru. Đôi mắt nheo nheo với chiếc mũ hơi hếch lại tạo một vẻ mặt đăm đăm. Các nếp nhăn và khối gồ ghề trên thân thể biểu hiện sự mỏi mệt, đến cả các nếp nhăn trên áo cũng gợi sự trăn trở, và cách ngồi có cái gì nặng nề. Tổ là vị duy nhất chít khăn cùng với toàn thân cân đối muốn gợi sự quyền quý oai vệ. Con hươu nằm ở trái Tổ, quay cổ và ngóc đầu hướng về Tổ như sự chờ đợi vỗ về. Có thể đấy là hình ảnh của Lộc uyển nơi đức Phật Thích Ca đã thuyết pháp và đức Ca Diếp đã chuyển pháp luân, ở đây con hươu cũng gợi ra những chúng sinh, những tăng lữ đã từng tranh luận về pháp với Tổ. Đây là một pho tượng được nghiên cứu rất kỹ về giải phẫu cơ thể và tâm lý xã hội, phức tạp mà thống nhất.

Tổ thứ 17: Tăng-già-nan-đề ( 僧伽難提, saṃghanandi)

Ngài là con Vua nước Bảo Trang Nghiêm, vừa sinh ra đã biết nói, hay tán dương Phật pháp. Lên 7 tuổi đã xa bỏ những thú vui thế tục, làm bài tụng xin xuất gia nhưng cha mẹ không thuận. Không lay chuyển được con, vua cha mời một vị hoà thượng vào thành tuyên dạy, 19 năm không hề thoái chí. Song ngài không bằng lòng với việc tu ở trong vương cung, một ngày kia đã trốn vào trong hang núi để ngồi nhập định. Ngài nhập định liền 37 ngày, khi xuất định thấy Tổ thứ 16 La Hầu La Đa ở bên cạnh. Được Tổ giảng giải về Đạo, Tăng Già Nan Đề tỉnh rõ tất cả. Mười năm sau được La Hầu La Đa truyền thừa giáo pháp làm Tổ thứ 17. Một lần đi vân du, nhờ gió mát và mây tía báo hiệu, ngài gặp đứa trẻ cầm gương xưng đã 100 tuổi muốn ngộ Phật cơ, bèn dắt về chùa làm lễ xuống tóc cho làm thị giả và đặt tên là Già Da Xá Đa.
Nhân một lần gió thổi làm khánh kêu, Tổ hỏi: "Khánh kêu hay gió kêu?", Già Da Xá Đa đáp: "Đấy là tâm con kêu". Lại hỏi: "Trong tâm ngươi là cái gì?". Đáp: "Tất thảy đều yên ắng". Biết Già Da Xá Đa đã ngộ, Tăng Già Nan Đề bèn trao thanh tịnh pháp nhãn cho làm Tổ thứ 18. Phó pháp xong, Tổ vin cành cây mà viên tịch, các đồ đệ xây tháp dưới gốc cây để thờ.


Tượng Tăng Già Nan Đề ở chùa Tây Phương được bày ở góc trong bên trái của toà chùa trong, tượng được tạc với khuôn mặt chữ điền rạng rỡ, ngồi tì cằm lên bàn tay úp đè nhau trên đầu gối (tay phải ở trên), cánh mũi nở, gò má đầy, nhắm mắt, khép miệng nhưng mỉm cười. Toàn thân thu gọn trong tấm áo bào choàng từ cổ xuống đất với những nếp gấp chảy xuôi, phía trước chỉ để hở khối chân phải gấp nằm ngang và khối chân trái gấp dựng đứng. Bệ tượng gợi sóng nước có mặt một con thú rừng, như muốn biểu hiện một thiên nhiên hoang dã. Thế ngồi tự nhiên, toàn thể bó trong một khối chóp có đường viền rõ ràng, các mảng lớn chảy xuôi gắn với vài mảng ngang hẹp làm cho toàn thể chững chạc, thu lại hình để khơi mở tư tưởng lớn. Đây là tác phẩm có bố cục rất gọn chặt.

Tổ thứ 18: Tăng-già-xá-đa ( 僧伽舍多, saṃghayathata)

Mẹ ngài nằm mơ thấy vị thần cầm gương báu, từ đó mà có thai, sau 7 ngày sinh; ngài có thân thể sáng trong như pha lê, toả hương thơm tinh khiết. Từ bé ngài đã nói không như những trẻ bình thường, hay cầm gương đi chơi. Khi gặp Tổ thứ 17, ngài giải thích về chiếc gương: "Mỗi vị Phật lớn đều có cái gương tròn lớn, soi thấu trong ngoài, trong gương ngoài gương hai người đều cùng nhìn nhau, tâm và mắt cũng tương tự vậy". Sau khi xuất gia rồi lại được Tăng Già Nan Đề trao cho y bát làm Tổ thứ 18, Già Da Xã Đa xuất lĩnh đồ chúng đi giáo hoá các nơi, rất hay quan sát và hay tìm hỏi. Một hôm thấy trên nhà người Bà La Môn có dị khí bốc lên, bèn đến gõ cửa nhưng hồi lâu trong nhà vọng ra: "Cả nhà đi vắng rồi!". Bị căn vặn: "Thế ai nói đó", chủ nhà mới ra mở của mời vào. Ngài nói cho chủ nhà hay rằng: "Đức Phật Thích Ca xưa đã dự ngôn sau khi nhập tịch 1000 năm, ở nước này sẽ có vị đại sĩ tên là Cưu Ma La Đa nhớ lại tiền duyên, cúi xin được xuất gia. Già Da Xá Đa bèn vì Cưu Ma La Đa xuống tóc và trao giới, sau lại đem đại pháp trao cho làm Tổ thứ 19.

Ở chùa Tây Phương, tượng Già Da Xá Đa bày ở bên phải tượng Tổ thứ 16, tả cảnh Tổ đang đi vân du giáo hoá, tay trái cầm gương giơ về phía sau, tay phải giang ngang rồi gấp lại tì giữ chiếc gậy trên vai mà đầu đằng sau buộc cuốn kinh với tua kim tòng. Tượng có những đặc điểm: gió thổi bay xa các tà áo và ống tay trong khi người vẫn đứng thẳng, chân phải hơi co tạo sự nhún nhảy gợi cho những cánh tay như đung đưa theo nhịp bước, các nếp áo buông chảy tự nhiên, đầu hơi nhô nhục kháo và dướn cao mở rộng tầm nhìn, vẻ mặt có phần ngơ ngác luôn gặp những cảnh mới lạ, đôi mắt mở to như hấp háy và cái miệng há vừa phải đang giữa câu nói, cánh mũi rộng, gò má đầy, tai dài, người đẫy chắc. Ngắm nhìn tượng đơn nhưng ta có thể thả sức tưởng tượng nhiều tình huống xảy ra phía trước.

Tổ thứ 19: Cưu-ma-la-đa ( 鳩摩羅多, kumāralāta)

Kiếp xưa ngài là Tiên ở tầng trời cao, nhìn thấy chuỗi dây anh lạc quấn quanh bụng một vị Bồ Tát đã nảy sinh lòng dục, bị đầy dần xuống các tầng trời thấp, cuối cùng giáng sinh vào một gia đình Bà La Môn ở nước Đại Nguyệt Thị. Khi gặp Già Da Xá Đa, nghe nói đến danh hiệu Phật bỗng tâm thần hoảng loạn, nhưng khi biết lời tiên tri của đức Phật và nhớ việc đời trước đã vui vẻ xin xuất gia. Sau khi đã thành Tổ thứ 19, ngài đi giáo hoá chúng sinh, đã giảng rõ nghiệp báu, khiến Xà Dạ Đa nhớ lại tiền duyên và xin được xuống tóc xuất gia. Về sau Cưu Ma La Đa trao thanh tịnh pháp nhãn cho Xà Dạ Đa làm Tổ thứ 20. Tổ yên toạ trên pháp toà, lấy móng tay vẽ bông sen hồng, toả hào quang rồi tiến vào cõi tịch diệt. Nơi đó được lập pháp thờ.

Ở chùa Tây Phương, Tượng Cưu Ma La Đa bày ở góc ngoài bên trái của toà chùa trong, tả Tồ với hình dáng toàn thân béo múp, ngồi ngả người rất thoải mái, chân gấp đứng, chân xếp ngang, tay trái để trên đùi, tay phải cầm bông hoa mây. Sự kết hợp bố cục hài hòa giữa bông hoa mây với những mảng khối căng nẩy khắp toàn thân, với khuôn mặt rất hể hả cùng nhau làm toát ra tính cách lãng mạn, yêu đời, sống thật thoải mái. Đầu tượng tròn, mặt bầu bĩnh, mắt hấp háy cười, mũi hơi chun lại với cánh nở, miệng mỉm cười, hai tai đầy rất dài, các nếp nhăn trên trán, trên cằm và khoé miệng, ánh mắt đều biểu hiện sự mãn nguyện. Tổ mặc áo phanh ra hở cả ngực và bụng cũng đều căng bóng, lại thêm mấy ngấn bụng thắt lại càng tạo cảm giác cứ rung lên phập phồng. Tượng quy về khối nón vững chắc, phối hợp các mảng khối ngang và dọc, điểm thêm một số đường nét thuận chiều, chỗ nào cũng đầy tràn sức xuân, gắn với kiếp trước ở tầng trời cao nhiều hơn là khi xuống hạ giới trong nhà Bà La Môn.

Tổ thứ 20: Xà-dạ-đa ( 闍夜多, śayata)

Ngài là người trí tuệ rất sâu xa, hoá đạo cho rất nhiều người. Khi Cưu Ma La Đa đến, ông chủ động đi tìm hỏi:
- Cha mẹ tôi vốn tín mộ Tam bảo, thế nhưng luôn bị bệnh tật, làm việc gì cũng đều thất bại. Gần nhà tôi có người hạng Chiên-đà-la (hà tiện, ác trược) thế mà thân thì khoẻ mạnh, làm việc gì cũng toại ý! Vậy kẻ ấy có phúc chi luôn gặp may, chúng tôi có tội chi luôn bị rủi ro?
Tổ Cưu Ma La Đa đáp:
- Sự báo ứng nhân quả thiện - ác trong ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai). Kẻ phàm thường chỉ thấy người lương thiện chết yểu, kẻ độc ác sống lâu, người nghĩa gặp dữ, kẻ nghịch gặp lành. . . bèn cho là không có báo ứng nhân quả, sự hồi báo của phúc và tội chỉ là giả huyễn. Họ có biết đâu như bóng theo hình, ảnh hưởng sự thiện ác theo mãi không tan mất.
Xà Dạ Đa nghe vừa dứt lời, mọi nghi hoặc tan biến.
Tổ lại nói: Nhà ngươi đã tin vào Tam nghiệp (thân - ngữ - ý), song vẫn chưa hiểu cái nghiệp do cái mê mà sinh, cái thức lại y theo cái không hiểu biết, cái không hiểu lại khởi nguồn từ cái tâm. Mà bản tính của tâm là thanh tịnh, không sinh không diệt, không báo ứng, không hơn thua, nó yên ắng và trong sáng. nếu ngươi nhập pháp môn ấy thì không khác gì Phật Tổ trên toà cao kia. Hết thảy thiện và ác, hữu vi và vô vi đều là mộng huyễn hết.
Xà Dạ Đa nhớ lại tiền duyên, xin xuất gia, được Cưu Ma La Đa xuống tóc, lại trao cho giới thanh văn làm Tổ thứ 20. Ngài khi giảng pháp cho nhóm có học và thích biện luận của Bà Tu Bàn Đầu đã nói về mình: "Ta không truy cầu đạo cả, cũng chẳng trái phạm đạo cả; ta không lễ phật, cũng chẳng khinh Tam bảo; ta không nhăm nhăm suốt ngày thiền định, cũng chẳng nhởn nhơ bỏ trễ; ta không phải chỉ ăn một loại thực vật, cũng chẳng phàm ăn tục uống; ta không biết đủ cũng chẳng tham lam. Tâm không trói buộc, ấy mới là thực đạo". Bà Tu Bàn Đầu nghe hết, nhớ lại tiền duyên, xin được dạy dỗ. Xà Dạ Đa bèn truyền thanh tịnh pháp giới cho: "Người xưa nay uẩn chứa vô vàn công đức, xứng kế thừa tông nghiệp của Phật Tổ, hãy lắng nghe tụng kệ":

Ngôn hạ hợp vô sinh
Đồng ư pháp giới tính
Nhược năng như thị giải
Thông đạt sự lý cách

(Điều nói vốn chưa sinh
Mọi cái trùng pháp giới
Nếu hiểu được như vậy
Đến rồi nơi tịch diệt)

Tổ khoác chéo thân một tấm cà sa như chiếc khăn, ngồi chân chống chân gấp trên tấm thảm tròn, cúi gấp người xuống, tay trái để trên đùi còn tay phải cầm cái que chọc xuống tấm lưng trần gãi.
Toàn bộ pho tượng nhấn mạnh cái ngứa đang hành hạ một người gầy yếu nhưng nội lực mạnh: Đầu to tròn với vầng trán rộng thông minh, nhưng khuôn mặt dài và xương xương, dướn cổ tạo những hốc, ngực phơi đủ bộ xương sườn, bụng mướp với nhiều nếp da nhăn nheo.
Tượng ngồi chân phải quỳ chân trái chống, bàn tay trái đặt lên đùi như lấy thêm thế dướn vai phải đưa tay lên cao để gãi cho đã. Đây cũng là thế ngồi khi tranh biện có thể phán quyết đầy đủ đối phương, gắn với hoạt động hoá đạo của Tổ. Đôi mắt nheo nheo trong hõm sâu ẩn dưới gò cao cùng với cái miệng chụm lại, phối hợp với các nếp nhăn trên trán, đuôi mắt và khoé miệng không chỉ nói lên cái già, còn biểu hiện những suy tư sâu sắc. Nhìn chính diện, người xem sẽ thấy sự chính xác về giải phẫu, sự dằn vặt về sinh lý và sự sâu sắc về trí tuệ.