Được tạo bởi Blogger.

Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2012

"Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về sư ốm tương tư
Ốm lăn ốm lóc nên sư trọc đầu
Ai làm cho dạ sư sầu
Cho ruột sư héo như bầu đứt dây"
(Ca dao)

Sau gần một năm ở Canada và tham gia kha khá những buổi liên hoan, thuyết trình trong đó tôi hoặc mặc áo dài hoặc không, đứng trình bày trước một nhóm bạn bè quốc tế về Việt Nam, tôi bắt đầu thấy chán ngán với những hình ảnh tôi đưa ra về đất nước mình. Tôi kì cụi mang theo những tranh Đông Hồ, tôi làm video clip có nền âm thanh là tiếng đàn bầu và những tấm ảnh chụp làng quê và thành thị Việt Nam. Tôi đã nói rất say sưa, và có lẽ là đầy tự hào. Có một bác người Canada nói riêng với tôi rằng: "khi nghe cháu nói về đất nước của mình, bác đã nghĩ ôi trời ơi, cô bé này quả là một người con yêu nước", và một chàng trai người Nhật đã đuổi theo tôi chỉ để nói rằng bạn rất xúc động.

Nhưng quanh đi quẩn lại, những điều tôi có thể nói về Việt Nam chỉ bó hẹp trong áo dài, phở, rặng tre, vịnh Hạ Long, đống rơm con gà, tháp Rùa, hay những khuôn mẫu mà những người làm du lịch đã đưa ra sẵn. Lúc đầu tưởng mớ hình ảnh để miêu tả Việt Nam ngồn ngộn lắm, nhưng chỉ trình bày vài lần, tôi thấy mình đi theo một lối mòn mà người ta đã vạch sẵn để quảng bá cho một sản phẩm. Rồi mỗi khi có người chào tôi bằng tiếng Trung, hay hỏi lại tôi "Việt Nam là ở đâu, không phải là một phần của Trung Quốc sao?" tôi lại phải vật lộn để vạch ra cái ranh giới rõ ràng là rất mỏng manh ấy. Việt Nam còn là gì ngoài những hình ảnh như cô gái mặc yếm đỏ ngồi e ấ bên giếng, đoàn người đi xe máy nườm nượp trên đường, mái chùa cong cong lẫn trong khói sương mà tôi có thể tìm thấy nhan nhản trên Internet?

Tôi đã luôn muốn trả lời cho câu hỏi ấy, có lẽ trước cả khi tôi phát hiện ra những điều mình có thể kể với bạn bè quốc tế về đất nước của mình không vượt ra nổi những khuôn mẫu của ngành du lịch. Tôi muốn biết nguồn gốc của mình ra sao, và nơi xuất xứ của mình nó thế nào. Càng ngày tôi càng nhận thức rằng những gì mình biết quá nhỏ bé, và có lẽ để trả lời cho câu hỏi "Việt Nam là gì?" tôi sẽ mất cả đời.

Tôi tìm được một phần câu trả lời cho mình trong những tác phẩm văn chương của Nguyễn Xuân Khánh. Lần đầu tiên tôi biết đến ông là qua "Mẫu Thượng Ngàn" vài năm trước, và từ khi đó đã ước ao sẽ có ngày tôi đủ trình độ để dịch sách của ông sang tiếng Anh, bởi vì tôi rất yêu cái chất Việt ướt đẫm trong văn của ông. Tôi nghĩ nếu người ta chỉ đọc một quyển sách của ông thôi thì cũng đã trả lời được rất nhiều cho câu hỏi "Việt Nam là gì" rồi. Lần này đọc "Đội gạo lên chùa" tôi càng ngẫm ngợi ra được nhiều điều, và càng thêm yêu ông.

Thiên tiểu thuyết dài gần 900 trang lấy tựa từ một bài ca dao hóm hỉnh. Dù lời hát dân gian kia có vẻ châm chọc, nhưng cuốn sách là một suy ngẫm dài (có lẽ là cả đời người) về Đạo và Đời, rất trang nghiêm mà cũng rất dung dị.

Toàn bộ truyện đặt vỏn vẹn trong có một ngôi làng. Làng là đơn vị xã hội chính của nông thôn Việt Nam, và trước thế kỉ 20, Việt Nam hầu như chẳng có thành thị. Suốt chiều dài lịch sử của mình, mọi biến động của đất nước được hợp thành bởi những ngôi làng ẩn mình dưới lũy tre xanh. Vì thế chỉ cần nói về một ngôi làng và những bão dông quét qua nó, ông cũng nói được những điều ảnh hưởng đến cả xã hội Việt Nam.

Và chẳng có tuyến nhân vật nào là chính hay phụ. Tác giả cứ nhẩn nha kể hết chuyện người này lại sang chuyện người kia, ai cũng xứng đáng được kể tường tận chi tiết gốc gác, và chẳng ai hoàn toàn xấu hay hoàn toàn tốt. Nhiều khi một chi tiết đã xuất hiện ở chương trước trong cuộc đời người này, lại được kể lại ở chương sau trong cuộc đời người khác. Với người tốt tác giả không ngợi ca hết lời, với kẻ xấu ông cũng không dìm xuống bùn đen. Cái nhìn của nhà văn hiền lành, vì ông cho tất cả nhân vật của mình ai ai cũng có một chỗ đứng. Ông tẩn mẩn kể nguồn gốc từ đời ông, đời cha, đời chú, những mối quan hệ chồng chéo lên nhau, thằng Chép là con thằng Trắm, cái Mua là con mẹ Xim, thằng Hạ là con bố Xuân, cứ thế, những biến cố xảy ra với người này là nguyên nhân của thay đổi trong cuộc đời người khác. Những câu chuyện nhỏ đan xen vào nhau, giống như những vòng tròn lan tỏa trên mặt ao khi những hạt mưa rơi xuống, vòng này nối vào vòng kia, để rồi tất cả tạo nên một sự rúng động ngầm bên dưới mặt nước.

Đọc ông, tôi cảm giác Việt Nam là một vùng đất nào to lớn và giàu có lắm. Cũng có thể tôi đã thực sự trở thành một người dân làng sau lũy tre trong truyện của ông, đi đến phố huyện đã thấy xa xôi và lạ lẫm. Cũng có thể tại cái cách ông miêu tả những thứ đơn giản một cách cầu kì và nâng niu quá. Tôi luôn nghĩ người viết thành công khi khiến những thứ mình viết về đẹp lên trong mắt người đọc. Nguyễn Xuân Khánh nói đến việc ngoáy tai của những anh thợ cắt tóc và nâng nó lên thành một kiểu nghệ thuật, trong đó người ngoáy tai phải có đôi tay mềm, đôi mắt tinh, sự tập trung tuyệt đối và cả một cái tâm thật tĩnh để lắng nghe từng nét mặt, từng tiếng thở của người khách để biết khi nào tiến khi nào lùi, khi nào nên mạnh nên nhẹ, và làm thế nào để khiến người khách khoan khoái nhất. Ông tả thú uống trà bằng cách hứng nước mưa chảy từ bẹ lá cau, không phải nước mưa múc từ bể, và ấm trà phải được ủ được chuyên thật đúng cách. Ông nói về cách làm sáo diều, cách vót sáo thế nào để tiếng sáo lúc trầm lúc đục, lúc thánh thót bay xa lúc âm vang gần gũi.

Cái giếng trong chùa thì thơm, tiếng chuông trong chùa thì biết run rẩy với lòng người. Cái bánh rán to bằng cái mâm, để cả tuần ăn vẫn vừa giòn vừa ngọt. Cứ thế, những sự vật bé nhỏ đều có những câu chuyện kì thú đằng sau, và người đọc như lạc vào cả một kho tàng những điều kì thú. Vì sự sống ở ngôi làng ấy giàu có quá, nên người ta thấy nó thật bao la, và đẹp. Nguyễn Xuân Khánh tả anh nông dân nghèo đặt đơm cá trên bờ đê, rồi anh vừa ngồi trông đơm vừa ngắm trăng và nhắm rượu với vài con tôm con tép sống chấm cùng mấy hột muối và vài cái lá chanh. Anh nông dân cục mịch, con tôm sống thì có gì lạ lùng, nhưng anh nông dân của ông lại biết cái vị ngòn ngọt của thịt tôm sống hòa với vị chát của lá chanh, cay của ớt, và mặn mòi của muối, với ngọn gió hây hẩy trên triền đê, thế là cái sự ăn uống ấy trở nên đẹp. Hay là cách cô thôn nữ nhuộm áo màu nâu non, cũng là màu nâu nhưng phải là loại lá cây ấy, trộn với loại cỏ dại ấy, thì mới tạo nên thứ màu nâu dù kín đáo nhưng vẫn biết điểm trang cho sức xuân ngời ngợi nơi cô. Có thể cô thôn nữ không đẹp, cái áo của cô cũng chẳng đẹp, nhưng Nguyễn Xuân Khánh làm cho màu nâu non nơi tà áo của cô và cách nhuộm kì công ấy đẹp. Còn tôi thì như mê đi trong những vẻ đẹp trùng trùng lớp lớp ông vẽ ra.

Khỏi phải nói, những người phụ nữ trong văn ông đều đẹp. Người thì mặn mà, người thì e ấp, người lại trong veo, có bà già lẩn thẩn suốt ngày nói chuyện với những con đom đóm thì có vẻ đẹp chập chờn của sự kết nối tâm linh. Hình như vì ông yêu phụ nữ quá nên cả những người đàn bà làm việc xấu trong truyện của ông cũng có lúc đẹp. Người mẹ nghèo bế con đi ăn xin suýt chết đói khi được cứu sống cũng thay da đổi thịt. Bà địa chủ hay chửi bới người làm đi vào cõi chết bằng cách treo cổ tự tử trong áo mớ ba váy lĩnh. Mỗi người trong bọn họ đều có nét đẹp riêng, kín đáo và duyên dáng. Người thì có mái tóc đen nhánh được vấn rất khéo. Người lại có cái gáy trắng tuyệt trần. Người là cái lưng thắt đáy lưng ong. Người lại là giọng hát trong réo rắt. Ở Nguyễn Xuân Khánh tôi tìm thấy sự trân trọng phụ nữ chân thành và sâu thẳm, một điều ít thấy ở những cây bút nam.

Ngoài "Hồ Quý Ly" là tiểu thuyết lịch sử (mà tôi chưa đọc) thì cả hai cuốn còn lại của ông đều lấy tôn giáo làm nền tảng chủ đạo. Một cuốn xoay quanh những câu chuyện về những người tin thờ đạo Mẫu, và cuốn kia, về những người mà số phận buộc họ phải chênh vênh giữa chùa và ngoài chùa, đi vào và đi ra, thoát tục và nhập tục. Tất lẽ dĩ ngẫu mọi thứ trong truyện đều bảng lảng sắc màu kì ảo của hư và thật, truyền thuyết và đời sống. Gốc đa đầu làng là nơi đu võng của các Cô, con hổ được vị sư nuôi hiền lành không làm hại cả người đang tâm giết nó. Tất nhiên là phần Việt Nam mà Nguyễn Xuân Khánh viết là miền Bắc, và nền văn hóa ông miêu tả cũng là đặc trưng của miền Bắc, nhưng tôi nghĩ người Việt ở đâu cũng sống với những câu chuyện mơ mơ hồ hồ như vậy. Có thể họ không tin, có thể họ không nghe, thậm chí chưa từng biết tới, nhưng những đức tin về điều linh thiêng và hướng đến cái Thiện vẫn là một phần chảy trong họ, chỉ là họ chưa nhận ra mà thôi.

Bởi vì Nguyễn Xuân Khánh viết văn rất đơn giản, cả thiên tiểu thuyết dài như vậy ít có câu nào mà người đọc phải vỗ đùi đánh đét tâm đắc, mà ông lại nhẩn nha kể hết người này đến người kia, nên tôi đọc truyện của ông như một đứa cháu nhỏ quẩn quanh bên chân ông mình nghe kể chuyện. Ông chẳng cố gắng chứng minh điều gì, hay tranh luận cho một quan điểm nào của cá nhân mình. Ông chỉ đơn giản kể lại những câu chuyện nho nhỏ, là tập hợp của những số phận nho nhỏ, họ đã lay động thế nào khi một biến cố xã hội xảy ra, và chính họ cũng là những tác nhân thay đổi thế nào. Truyện của ông không gian thì hẹp, chỉ bó gọn trong phạm vi lũy tre làng, nhưng thời gian thì rộng. Trong "Đội gạo lên chùa", thời gian trải dài từ thời Pháp thuộc cho đến sau khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc, tức là phần lớn của thế kỉ 20, thế nên những biến động đều trải dài theo thời gian. Những con người ấy đã lớn lên, già đi, và biến đổi cùng với xã hội Việt Nam. Đem những câu chuyện nhỏ xếp cạnh nhau như thế, lại khiến người ta thấy rõ tình yêu của mình dành cho điều mình viết về, và yêu luôn cả điều đó, ông khiến tôi nghĩ đến tình yêu trong đạo Phật. Tình yêu không phải hướng đến một đối tượng, mà khi người yêu được tất cả nhân gian, là bản thân người đã trở thành tình yêu. Người viết văn cũng thế, khi họ đã yêu điều gì đó đủ để nó thành một phần của mình, họ không cần phải cố gắng, người đọc cũng sẽ yêu nó và yêu cả người viết.

Phụ nữ và tôn giáo, tôi không biết có phải tôi yêu Nguyễn Xuân Khánh vì ông cũng yêu hai điều này, hay là thật ra, nhờ có ông và sau khi đọc truyện của ông mà tôi mới gọi được tên những điều mình yêu?
Categories: ,

0 nhận xét:

Đăng nhận xét