Được tạo bởi Blogger.

Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

Đã bao lâu rồi kể từ khi Karenin và Anna thôi làm tình? Còn Vronsky thì sao? Chàng có giỏi cái khoản mang lại cực khoái cho nàng không? Và Anna?   Liệu nàng có thể nào lãnh cảm? Họ đã làm tình trong bóng tối, ngoài ánh sáng, trên giường, trên thảm, được ba phút, ba giờ, nói chuyện lãng mạn hay tục tĩu,  hay im lặng? Chúng ta chẳng biết tí gì về chuyện ấy. Trong các tiểu thuyết thời đó, tình yêu
A typical proposal scene, in which a man goes down on his knees, pulls out a ring box, looks up to his girlfriend and asks "will you marry me?", doesn't exist in a typical Vietnamese context. First off, Vietnamese men don't kneel down in front of a woman, except maybe his own mother. Secondly, while people in Western culture date because of interest, attraction and fun, Vietnamese people, if they date at all, it is already a scanning process. A Western girl is likely to burst into tears the moment her boyfriend presents her a ring because until then, she can't be sure if they will be together for good. A Vietnamese girl is not likely to date a man she can't visualize herself marrying him, therefore the announcement is nothing of a surprise to her.

But yesterday, I found a Vietnamese equivalence of the Western concept of proposal. It is when a man asks his girlfriend to visit his hometown. The question "Will you go to my hometown with me this Sunday?" is the Vietnamese version of "Will you be willing to spend your life with me?". Why?

First thing first, falling in love happens between two individuals, yet marriage is always more a family concern than a personal affair (of course I am talking about Vietnam here). A wedding happens between two families rather than between a man and a woman. You don't just acquire a husband, or a wife, you actually recruit a member to your family, who doesn't get the same upbringing, maybe doesn't share the same values, but nevertheless will share the responsibilities of supporting that family from now on. I still remember how at the New Year's prayer session took place in the village temple, almost everyone in my extended family on my paternal grandmother side (around 50), prayed together for one of my father's cousin to have a boyfriend because she was reaching 29. I wasn't shocked, but found it a bit amusing that collectively, the family was concerned with her personal choice. Once you reach a certain age, if you are still single, the matter will concern your whole big family because it affect the family's blessing, and people will talk about it as a very bad fortune that results from a bad sum of karma accumulated collectively.

Thus, I dare say that once a Vietnamese man introduces his girlfriend to his big family, it is a kind of commitment made public. A proposal in a romantic restaurant can be broken without much publicity, but once half of the village (it's how far an extended family goes) knows of a potential mate, nothing will go undetected.

A formal introduction, in which a girlfriend is introduced, is also a chance for everyone to judge, discuss, extract information and for the (usually nervous) young lady to show her best. It is more or less a beauty pageant, except that the criteria on which judgments are based include her look, her dressing style, her way of walking, her cooking skills, her speaking manner, her family background, and all subtle cues people can think of to judge a person. Brief information will be exchanged, such as how many siblings, how old her parents are, where they work, but this is only for show because most of the time people already try to find out everything they can about the candidate. They will discuss in whisper, cast her a glance here and now, the women will sit in a group of two or three while the men do the talking. Not to mention that neighbours and even  further related relatives will drop by occasionally, either in groups or alone, to check out someone who will potentially become a part of them, and leave again rather hurriedly.

Once a young man takes his girlfriend to his hometown, he is making a public statement: "I think I am very likely to marry this woman, and she will be a part of my family" It is a symbolic sign of commitment that holds much stronger power than a physical ring. Starting from that moment, he will be asked (sometimes by a mere acquaintance) when the expected wedding will take place, and an either mild or fierce social pressure to jump a step will doom on the couple's heads. That's when they know words have circulated to even further-related people, and the fact of a coming formation of a new family is being confirmed.

This confirmation can take place as small talks between seemingly trivial people who don't directly have any influence on the couple's decision. Maybe an exchanged gossip between two great aunts when they are on their way to the morning market, but this is truly the needed confirmation. Everything afterwards, such as talks between two families at stakes, announcement to friends, even a wedding itself, is only a matter of formality. The fact that these two people are about to get married has been widely known and accepted way before that.

The introduction, and this girlfriend will leave a permanent mark in his life, because if someday they break up, every other girls he will take to his extended-family will be compared to this one. They can be better, they can be worse, it doesn't matter. What matters is as she is now officially known to his family, she will no longer stay within the realm of his own concern. He has done a crucial step in transforming a private matter to a collective one. The relationship after becomes a topic of discussion in family gathering. A changing of role just happens. People stop viewing him as a young man only, he may be promoted to the same level of respect as his grandfather, father and uncles. He opens up a new stage of life, namely a potential mature and married man.

The same stuffs happen to a girl when she introduces her boyfriend to her extended-family, but as women are married into their husband's family, thus the impact of receiving a new member is not as great in her family, reducing the stress on the man as well as intensity of her family's judging process.

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2012

Truyện ngắn "Con suối mùa xuân" của Võ Hồng đăng trên tạp chí Văn  - Giai phẩm Xuân Ất Tỵ ra ngày 15/1/1965, có một đoạn hai nhân vật trò chuyện về Lolita. Lười gõ lại nên chỉ chụp hình. Click vào hình có thể xem rõ hơn (hy vọng thế).

Nhân đây, trên tienve.org có ý kiến cho rằng Lolita chỉ cao một mét hai lăm, và Dương Tường dịch thành một mét bốn sáu là sai. Nhưng tất nhiên Lolita

Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2012

Bạn thân mến

Đâu đó Ernest Hemingway có nói rằng ở thời điểm khởi sự nghiệp
viết của mình đột nhiên ông nhận ra nên loại bỏ sự kiện trung tâm ra khỏi truyện mình đang viết (sự kiện nhân vật chính treo cổ). Rồi
ông giải thích rằng từ quyết định này ông khám phá ra một kỹ thuật kể chuyện mà
về sau ông thường xuyên ứng dụng trong các truyện ngắn và tiểu thuyết của mình.
 Thực tế, không hề phóng

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

Lắm sách chất quanh nhà cũng có cái lợi. Một
trong những cái lợi là thỉnh thoảng giở cuốn này ngó một trang, cuốn kia ngó
một trang, có khi thu nhặt được đôi điều bổ ích bất ngờ. Chẳng hạn, hôm nọ giở một
trang cuốn dày
cồm cộp của Gardner thấy câu này của ông hình như tên bắt đầu bằng chữ S -
Samuelson hay gì đấy, sẽ xem kỹ lại sau, đã xem lại, tên ông chính xác là Samuel Johnson. Câu thế này,
Bài này dịch 2004, đăng eVan. Post lại ở đây nhân dịp đang tìm kiếm Tuyển tập Kawabata của Đông Tây.  Cuốn đó, từng nhìn thấy nhiều lần, nhưng không lấy, bây giờ muốn có lại không thấy đâu. Bạn nào có, chỉ giúp, xin hậu tạ.

GIẢI  NOBEL VĂN CHƯƠNG 1968Diễn  từ trao giải của tiến sĩ Anders Osterling, Viện Hàn lâm Thụy Điển
Người nhận giải Nobel văn chương năm nay, nhà văn Nhật Bản Yasunari

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

Trưng cái hình chụp mẩu quảng cáo của NXB Trẻ
lên làm chứng: rành rành nói bán sách tại địa chỉ NXB từ 20 đến 25 tháng 4, cóc
có nói nghỉ ngày nào. Thế mà, chiều chủ nhật, thân cò lặn lội đến tận nơi, thấy
vắng hoe, được chú bảo vệ thông báo nghỉ cả ngày chủ nhật. Quả nhiên là treo
đầu dê mà không bán thịt con gì hết. Cáu!

Ảnh dưới là hình mấy cuốn muốn mua đợt này:

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

Đất lề quê thói là một cuốn sách của Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu
khảo về phong tục Việt Nam.

Cuốn này nằm trong mớ sách của papa, mang vào nhà đã lâu,
nhưng chưa có lúc nào đọc vì sách nát quá, cầm lên ngại. Nay nhân mới hỏi được
chỗ đóng sách, đem đi đại tu, kết quả có một cuốn sạch sẽ, gọn gàng, xinh xắn.
Dân chơi sách thường không ưa sách đóng bìa hay bị gọt xén lắm. Nhưng nếu chỉ để
đọc, thì

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

Những cuốn dưới đây toàn danh tác. Tuy nhiên, đôi khi không cần đọc, chỉ cần xem bìa, là đủ:)

Bài này nói về việc đọc chậm rất thú vị. Nhân lúc bản thân cũng đang thực hành đọc chậm, tôi dịch phiên phiến một số đoạn của bài này.  Tôi chép tiếng Anh trên tiếng Việt dưới, theo format của bác TV:), để mọi người tiện bề ném đá.  Tôi cũng chỉ mới dịch thoáng qua, chưa xem lại, mà chắc cũng không xem lại trừ chỗ nào sai rành rành. Bài dịch này thân mến tặng chị Sonata.


In our leisure

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

1. One evening I arrived at a pavement underneath a bridge only to find out my friends hadn't left their houses yet. So I waited. I usually can't stand not doing anything for one moment, but because I had expected my friends to be there when I came, I didn't bring with me anything to kill time. I looked around and saw a xe om man. He was sitting on his motorbike underneath the bridge. He was waiting for a customer, but no one, including himself, could know for sure when the next customer would show up. He was there, waiting for someone that may never come.

A xe om driver is such an intrinsic part of every street in urban Ha Noi. Sometimes a few of them sit together, sometimes one sits by himself. No one really pays much attention to them, except those who are looking for a ride. People pass by without a second glance. Xe om don't stand out more than a wall, a tree, or a bridge. They are a part of the scene, they are always on a spot from morning to late night, in the rain and in the sun, without much interaction to the world around them. They just sit there, sometimes so immobile that they become almost invisible.

I remember the time I saw a xe om early morning on the first day of New Year. The street couldn't be more desert as everyone had either returned home or were at home, and he was there, sitting on his motorbike at his usual spot. More than anything, the first day of the New Year is time for family, and it couldn't be any other thing. So much that I, and the majority of Vietnamese, consider it sacred. When I saw a human figure on a motorbike at a street corner that early morning, all definitions of loneliness seemed inadequate.

Back to the xe om underneath the bridge,  even though we were both waiting, I had a definite end while he didn't. I would just wait until my friends came, but he would be sitting without any certain point in time. Suddenly I felt desperate. I have never in my life waited for something, day in and day out, without a single clue of how long the wait will last. I wanted to talk to him, but didn't know how. The 2m distance between us seemed hopelessly vast.

Vehicles kept passing by. Two silent figures parked near each other under the bridge. I didn't know if he was even aware of my presence. He seemed indifferent to the world, as if nothing but a customer would spark his interest. I couldn't start a conversation, I struggled to find a word, then I quit. We both stayed still, there was a world of difference between us.

2.  When I was still working for Bloom, I spent about 3 days a week talking to female farmers. They would tell me how their children's teachers had reminded them of paying tuition too often lately and how the children didn't want to go to school anymore because they were ashamed of not paying on time. They would explain how they had done everything they could think of but couldn't save the chickens that they invested all the loan in from dying. Or how they were willing to do absolutely anything, including spraying pesticides, a job that everyone wishes to avoid and often hires poor people to do it instead. 

And the rest 4 days of the week, I went back to my normal life. Sometimes I spent on a new pair of jeans the amount of money a woman needed to keep her daughter in school for the next semester. Sometimes I bought a pile of books which costed me the equivalence of an investment in 2 piglets. And one time I was invited to a luxurious meal which I didn't enjoy that much (I am never a big fan of seafood), only found out later that the total cost for that meal was 10 million, a huge number that many of the borrowers I worked with just needed to completely change their lives and their children's.

The thought of a separation between a "working life" and a "normal life" disturbed me a lot. It seems so wrong that half of the time people surrounded me needed a few millions to pay back debts, send their children to school, start a new business and even have a chance to break out of poverty, while during the other half, those surrounded me spent the exact amount of money without a second thought. I felt guilty when I was among the latter, but I didn't know what else to do. There, I talked to the farmers, was welcomed into their houses and shared their difficulties, but the distance between us was a world apart.

3. I have friends on facebook who pride themselves in a passion for travelling. They often upload tons of pictures of themselves going to different places. But they see more through their camera lenses than their own eyes. And while at a new place, they spend more time taking pictures of the local people or worse, posing and taking pictures of themselves than interacting with the latter or even just looking at them. 
I don't like that way of travelling, but I guess my friends are too afraid to reach out, or don't know how to start, or maybe they don't consider touching a place through its people a part of travelling. Who cares? Just bring back loads of pictures, people will admire you and your adventurousness. Just like I didn't know how to start a conversation with another human being, or struggle to fit my way of living with many others.

One day I went out to get my cell phone a nylon cover. I watched the man skillfully use very simple tools to place a super thin plastic cover on the screen. At some points his hands almost fondled the object and caressed every single tiny space he could find on it. Very delicate and patient. I tingled with an urge to write something about him, because the way he moved his hands seemed like an art to me. So I started asking him questions: "How did you learn to do this?" "Is it difficult?", "What do you need to set up a shop?"..but my attempt failed. I didn't know whether he preferred to be quiet and focus on his job or whether my questions were too intimidating. I went home and google "nghề dán điện thoại". A bunches of articles came up, I read until I felt sorry for myself that I have to turn to google to find something that was right in front of my face.

4. The world we are living is flat in the sense that it allows us to reach further and further. It is probably true, but I would say we are not reaching deeper, at least not to people who are very different from ourselves. Instead we confine ourselves to our own little worlds, we interact with people similar to us, and withdraw into our private spaces so  much that when it is time to come out, we become too afraid or reluctant.
Isn't it sad that I can reach people thousands of kilometers away by my fingertips but couldn't touch those right next to my hands?

Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Một hôm ăn tối xong tung tăng đi mua bánh ngọt, và tự nhiên nghĩ ra tất tần tật những thứ mình cần cho một cuộc sống bình thường đều nằm trong khoảng cách đi bộ 10 phút. Ngay bên cạnh nhà là một hàng giày dép, kế đó là hàng tạp hóa có đầy đủ đồ lặt vặt từ gói mì cho đến khăn mặt, hàng ăn, hàng kem, chợ đều ở ngay cạnh nhà. Ngân hàng để đi gửi tiền tiết kiệm và rút tiền ra tiêu cũng chỉ cách có vài bước chân. Cao cấp hơn nữa, nhà văn hóa quận phục vụ cho các nhu cầu tinh thần như tập thể dục thẩm mĩ hay học guitar cũng ngay cạnh chợ. Thậm chí, nhà bà ngoại và các cô bác cũng không nằm quá khoảng cách đi xe đạp 10 phút. Nhớ ra luôn là cả cấp 1 lẫn cấp 3 mình đều đi bộ đi học.

Nghĩ thế xong thấy mình thật là sung sướng. Nhớ lại hồi còn ở Canada, mỗi lần đi chợ là về nhà đau tay đau vai đến mấy ngày sau vì xách nặng quá. Chỗ mua thức ăn đi xe bus mất 20 phút, nhưng còn thời gian chờ đợi, đi bộ, nếu có lỡ hết muối để nấu canh thì cũng đành chịu vì đi mua sẽ mất cả buổi chiều. Ở cái vùng hẻo lánh ấy, lại không có xe, muốn đi đâu cũng phải chăm chăm tính giờ để khỏi bị lỡ bus, nhiều khi đến nhà bạn chơi muốn kể thêm một câu chuyện cũng không được. Nghĩ thế xong lại càng thấy bây giờ mình thật sung sướng.

Đã về nhà được gần 1 năm, dù không phải lúc nào cũng thuận lợi nhưng chưa bao giờ hối hận về quyết định này của mình. Thỉnh thoảng gặp những người họ hàng xa, họ vẫn hỏi tại sao không ở luôn đấy mà cưới một thằng tây, tại sao lại về cái xã hội thối nát này làm gì. Mình không còn bực mình nữa, có lẽ cũng đã trơ ra với những câu bình luận ấy. Quả thật là một đất nước phát triển và hiền hòa như Canada có nhiều điều hấp dẫn. Nhưng so sánh giữa được và mất, thì bởi vì mình đã có quá nhiều ở đây, và những cái được ở Canada không phải là điều mình thiết tha lắm. Người ta hay nói về những phúc lợi xã hội, như chữa bệnh miễn phí, trợ cấp thất nghiệp, rồi chỉ cần chăm chỉ, cho dù bạn là một người thợ giặt, bạn vẫn có thể sống đàng hoàng, được tôn trọng và có tự do. Thì phải rồi, với những người không có một công việc tốt ở Việt Nam, làm thợ sửa kính chẳng hạn, thì cũng làm thợ sửa kính như thế ở Canada sẽ mang lại cho họ một đời sống đảm bảo hơn, lại được tiếng là Việt kiều. Nhớ có lần ngồi ở sân bay Hong Kong, thấy mấy cô mấy chị từ Toronto về vào nhà vệ sinh thay váy áo xúng xính, đeo trang sức đầy người, và ngồi bàn tán với nhau xem chuyến hồi hương này tốn mất mấy nghìn đô tiền quà cáp, số tiền mà họ phải dành dụm nhịn ăn nhịn mặc trong biết bao nhiêu năm. Người đi thì mỗi lần về nhà phải thật bóng bẩy, còn người ở nhà cứ nghĩ nơi đó là thiên đường giữa nhân gian, ai đến được cũng sung sướng hết.

Thỉnh thoảng vẫn nhận được thiếp và thư của những người bạn già yêu quý mình ở cái thị trấn thôn quê bé nhỏ ấy. Bốn năm học chẳng thân với ai bằng tuổi, nên bây giờ những người duy nhất mình còn giữ liên lạc là các ông bà, các bác. Họ nói vẫn nhớ và cầu nguyện cho mình. Khi mình kêu ca thất nghiệp thì họ cầu nguyện cho mình sẽ kiếm được việc. Khi mình bảo mất phương hướng thì họ cầu nguyện cho mình sẽ tìm được lối đi. Lễ phục sinh thì cầu cho mình sẽ biết đến đức Chúa Ki tô. Cứ lâu lâu lại nhận được những dòng như thế, lại thấy ấm áp vì mình vẫn còn được nghĩ đến, và yêu thương, từ những người bây giờ đã ở xa lắm rồi.

Nhớ là bằng giờ này năm ngoái, tự dưng có một chàng trai xuất hiện, và mình đã tự hỏi không biết con người ấy có phải đã đóng vai trò rất lớn trong quyết định của mình không. Đúng khi mình cảm thấy sẵn sàng để rời bỏ, thì lại có một sợi dây mọc ra để níu giữ và mời gọi mình quay về. Cũng có thể đó chỉ là cái cớ, hay một cú huých, để mình đi vào con đường mà mình muốn nhưng vẫn chù chừ chưa dứt khoát được. Vào những giai đoạn lập lờ như thế trong cuộc đời, hình như luôn có ai đó xuất hiện để huých mình. Dĩ nhiên mình có đi theo lối họ huých không là chuyện khác, nhưng nghĩ đến thế thấy được an ủi hơn vì ít nhất vẫn có những người đẩy mình đi khi mọi thứ có vẻ bế tắc. Lúc nào cũng nghĩ giá có ai đó nói cho mình biết mình nên làm gì, và mình không phải loay hoay tự quyết định thì tốt bao nhiêu, nhưng mà chẳng có. Đôi khi nghĩ không biết những người mình gặp và những việc mình làm có phải là lý do không, hay thật ra chỉ là cái cớ để mình trở thành người như mình bây giờ? Nghĩa là mình thật sự biến đổi theo hoàn cảnh, nếu mình không về thì đã là một người hoàn toàn khác, hay kiểu gì mình vẫn là mình như thế này thôi, việc về chỉ là một bước ngoặt to được tạo nên bởi rất nhiều cú huých nhỏ để đi vào con đường ấy?

Hôm trước đi nghe dàn đồng ca Đức biểu diễn ở viện Goethe, đến một bài không có lời, nhưng mà giai điệu rất đẹp, tự nhiên mình chảy nước mắt. Những giọng ca hòa vào nhau làm mình nhớ đến mùa xuân ở Peterborough, khi mà sự sống bừng dậy, mạnh mẽ và cuống quýt. Chẳng nhớ nhung điều gì cụ thể cả, nhưng mà nỗi nhớ vốn thế mà, nếu có một hình ảnh hay một kỉ niệm rõ ràng để mà giăng mắc nó vào thì nó mới chỉ là sự thiếu hụt trong tâm trí thôi, lâu không có một thứ người ta vẫn có thì thấy thiếu. Khi thời gian đã làm nó nhòe nhoẹt rồi, thì nó lại gây xúc động dữ dội. Và ở trong giai điệu vô cùng vui tươi ấy, mình đã lã chã nước mắt, chẳng biết mình đang nhớ gì, ngoài một cảm giác mơ hồ về tiếng gió, tiếng chim, vạt nắng, sự sống và một mùa xuân trong quá khứ chẳng bao giờ còn lấy lại được.

Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2012

"Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về sư ốm tương tư
Ốm lăn ốm lóc nên sư trọc đầu
Ai làm cho dạ sư sầu
Cho ruột sư héo như bầu đứt dây"
(Ca dao)

Sau gần một năm ở Canada và tham gia kha khá những buổi liên hoan, thuyết trình trong đó tôi hoặc mặc áo dài hoặc không, đứng trình bày trước một nhóm bạn bè quốc tế về Việt Nam, tôi bắt đầu thấy chán ngán với những hình ảnh tôi đưa ra về đất nước mình. Tôi kì cụi mang theo những tranh Đông Hồ, tôi làm video clip có nền âm thanh là tiếng đàn bầu và những tấm ảnh chụp làng quê và thành thị Việt Nam. Tôi đã nói rất say sưa, và có lẽ là đầy tự hào. Có một bác người Canada nói riêng với tôi rằng: "khi nghe cháu nói về đất nước của mình, bác đã nghĩ ôi trời ơi, cô bé này quả là một người con yêu nước", và một chàng trai người Nhật đã đuổi theo tôi chỉ để nói rằng bạn rất xúc động.

Nhưng quanh đi quẩn lại, những điều tôi có thể nói về Việt Nam chỉ bó hẹp trong áo dài, phở, rặng tre, vịnh Hạ Long, đống rơm con gà, tháp Rùa, hay những khuôn mẫu mà những người làm du lịch đã đưa ra sẵn. Lúc đầu tưởng mớ hình ảnh để miêu tả Việt Nam ngồn ngộn lắm, nhưng chỉ trình bày vài lần, tôi thấy mình đi theo một lối mòn mà người ta đã vạch sẵn để quảng bá cho một sản phẩm. Rồi mỗi khi có người chào tôi bằng tiếng Trung, hay hỏi lại tôi "Việt Nam là ở đâu, không phải là một phần của Trung Quốc sao?" tôi lại phải vật lộn để vạch ra cái ranh giới rõ ràng là rất mỏng manh ấy. Việt Nam còn là gì ngoài những hình ảnh như cô gái mặc yếm đỏ ngồi e ấ bên giếng, đoàn người đi xe máy nườm nượp trên đường, mái chùa cong cong lẫn trong khói sương mà tôi có thể tìm thấy nhan nhản trên Internet?

Tôi đã luôn muốn trả lời cho câu hỏi ấy, có lẽ trước cả khi tôi phát hiện ra những điều mình có thể kể với bạn bè quốc tế về đất nước của mình không vượt ra nổi những khuôn mẫu của ngành du lịch. Tôi muốn biết nguồn gốc của mình ra sao, và nơi xuất xứ của mình nó thế nào. Càng ngày tôi càng nhận thức rằng những gì mình biết quá nhỏ bé, và có lẽ để trả lời cho câu hỏi "Việt Nam là gì?" tôi sẽ mất cả đời.

Tôi tìm được một phần câu trả lời cho mình trong những tác phẩm văn chương của Nguyễn Xuân Khánh. Lần đầu tiên tôi biết đến ông là qua "Mẫu Thượng Ngàn" vài năm trước, và từ khi đó đã ước ao sẽ có ngày tôi đủ trình độ để dịch sách của ông sang tiếng Anh, bởi vì tôi rất yêu cái chất Việt ướt đẫm trong văn của ông. Tôi nghĩ nếu người ta chỉ đọc một quyển sách của ông thôi thì cũng đã trả lời được rất nhiều cho câu hỏi "Việt Nam là gì" rồi. Lần này đọc "Đội gạo lên chùa" tôi càng ngẫm ngợi ra được nhiều điều, và càng thêm yêu ông.

Thiên tiểu thuyết dài gần 900 trang lấy tựa từ một bài ca dao hóm hỉnh. Dù lời hát dân gian kia có vẻ châm chọc, nhưng cuốn sách là một suy ngẫm dài (có lẽ là cả đời người) về Đạo và Đời, rất trang nghiêm mà cũng rất dung dị.

Toàn bộ truyện đặt vỏn vẹn trong có một ngôi làng. Làng là đơn vị xã hội chính của nông thôn Việt Nam, và trước thế kỉ 20, Việt Nam hầu như chẳng có thành thị. Suốt chiều dài lịch sử của mình, mọi biến động của đất nước được hợp thành bởi những ngôi làng ẩn mình dưới lũy tre xanh. Vì thế chỉ cần nói về một ngôi làng và những bão dông quét qua nó, ông cũng nói được những điều ảnh hưởng đến cả xã hội Việt Nam.

Và chẳng có tuyến nhân vật nào là chính hay phụ. Tác giả cứ nhẩn nha kể hết chuyện người này lại sang chuyện người kia, ai cũng xứng đáng được kể tường tận chi tiết gốc gác, và chẳng ai hoàn toàn xấu hay hoàn toàn tốt. Nhiều khi một chi tiết đã xuất hiện ở chương trước trong cuộc đời người này, lại được kể lại ở chương sau trong cuộc đời người khác. Với người tốt tác giả không ngợi ca hết lời, với kẻ xấu ông cũng không dìm xuống bùn đen. Cái nhìn của nhà văn hiền lành, vì ông cho tất cả nhân vật của mình ai ai cũng có một chỗ đứng. Ông tẩn mẩn kể nguồn gốc từ đời ông, đời cha, đời chú, những mối quan hệ chồng chéo lên nhau, thằng Chép là con thằng Trắm, cái Mua là con mẹ Xim, thằng Hạ là con bố Xuân, cứ thế, những biến cố xảy ra với người này là nguyên nhân của thay đổi trong cuộc đời người khác. Những câu chuyện nhỏ đan xen vào nhau, giống như những vòng tròn lan tỏa trên mặt ao khi những hạt mưa rơi xuống, vòng này nối vào vòng kia, để rồi tất cả tạo nên một sự rúng động ngầm bên dưới mặt nước.

Đọc ông, tôi cảm giác Việt Nam là một vùng đất nào to lớn và giàu có lắm. Cũng có thể tôi đã thực sự trở thành một người dân làng sau lũy tre trong truyện của ông, đi đến phố huyện đã thấy xa xôi và lạ lẫm. Cũng có thể tại cái cách ông miêu tả những thứ đơn giản một cách cầu kì và nâng niu quá. Tôi luôn nghĩ người viết thành công khi khiến những thứ mình viết về đẹp lên trong mắt người đọc. Nguyễn Xuân Khánh nói đến việc ngoáy tai của những anh thợ cắt tóc và nâng nó lên thành một kiểu nghệ thuật, trong đó người ngoáy tai phải có đôi tay mềm, đôi mắt tinh, sự tập trung tuyệt đối và cả một cái tâm thật tĩnh để lắng nghe từng nét mặt, từng tiếng thở của người khách để biết khi nào tiến khi nào lùi, khi nào nên mạnh nên nhẹ, và làm thế nào để khiến người khách khoan khoái nhất. Ông tả thú uống trà bằng cách hứng nước mưa chảy từ bẹ lá cau, không phải nước mưa múc từ bể, và ấm trà phải được ủ được chuyên thật đúng cách. Ông nói về cách làm sáo diều, cách vót sáo thế nào để tiếng sáo lúc trầm lúc đục, lúc thánh thót bay xa lúc âm vang gần gũi.

Cái giếng trong chùa thì thơm, tiếng chuông trong chùa thì biết run rẩy với lòng người. Cái bánh rán to bằng cái mâm, để cả tuần ăn vẫn vừa giòn vừa ngọt. Cứ thế, những sự vật bé nhỏ đều có những câu chuyện kì thú đằng sau, và người đọc như lạc vào cả một kho tàng những điều kì thú. Vì sự sống ở ngôi làng ấy giàu có quá, nên người ta thấy nó thật bao la, và đẹp. Nguyễn Xuân Khánh tả anh nông dân nghèo đặt đơm cá trên bờ đê, rồi anh vừa ngồi trông đơm vừa ngắm trăng và nhắm rượu với vài con tôm con tép sống chấm cùng mấy hột muối và vài cái lá chanh. Anh nông dân cục mịch, con tôm sống thì có gì lạ lùng, nhưng anh nông dân của ông lại biết cái vị ngòn ngọt của thịt tôm sống hòa với vị chát của lá chanh, cay của ớt, và mặn mòi của muối, với ngọn gió hây hẩy trên triền đê, thế là cái sự ăn uống ấy trở nên đẹp. Hay là cách cô thôn nữ nhuộm áo màu nâu non, cũng là màu nâu nhưng phải là loại lá cây ấy, trộn với loại cỏ dại ấy, thì mới tạo nên thứ màu nâu dù kín đáo nhưng vẫn biết điểm trang cho sức xuân ngời ngợi nơi cô. Có thể cô thôn nữ không đẹp, cái áo của cô cũng chẳng đẹp, nhưng Nguyễn Xuân Khánh làm cho màu nâu non nơi tà áo của cô và cách nhuộm kì công ấy đẹp. Còn tôi thì như mê đi trong những vẻ đẹp trùng trùng lớp lớp ông vẽ ra.

Khỏi phải nói, những người phụ nữ trong văn ông đều đẹp. Người thì mặn mà, người thì e ấp, người lại trong veo, có bà già lẩn thẩn suốt ngày nói chuyện với những con đom đóm thì có vẻ đẹp chập chờn của sự kết nối tâm linh. Hình như vì ông yêu phụ nữ quá nên cả những người đàn bà làm việc xấu trong truyện của ông cũng có lúc đẹp. Người mẹ nghèo bế con đi ăn xin suýt chết đói khi được cứu sống cũng thay da đổi thịt. Bà địa chủ hay chửi bới người làm đi vào cõi chết bằng cách treo cổ tự tử trong áo mớ ba váy lĩnh. Mỗi người trong bọn họ đều có nét đẹp riêng, kín đáo và duyên dáng. Người thì có mái tóc đen nhánh được vấn rất khéo. Người lại có cái gáy trắng tuyệt trần. Người là cái lưng thắt đáy lưng ong. Người lại là giọng hát trong réo rắt. Ở Nguyễn Xuân Khánh tôi tìm thấy sự trân trọng phụ nữ chân thành và sâu thẳm, một điều ít thấy ở những cây bút nam.

Ngoài "Hồ Quý Ly" là tiểu thuyết lịch sử (mà tôi chưa đọc) thì cả hai cuốn còn lại của ông đều lấy tôn giáo làm nền tảng chủ đạo. Một cuốn xoay quanh những câu chuyện về những người tin thờ đạo Mẫu, và cuốn kia, về những người mà số phận buộc họ phải chênh vênh giữa chùa và ngoài chùa, đi vào và đi ra, thoát tục và nhập tục. Tất lẽ dĩ ngẫu mọi thứ trong truyện đều bảng lảng sắc màu kì ảo của hư và thật, truyền thuyết và đời sống. Gốc đa đầu làng là nơi đu võng của các Cô, con hổ được vị sư nuôi hiền lành không làm hại cả người đang tâm giết nó. Tất nhiên là phần Việt Nam mà Nguyễn Xuân Khánh viết là miền Bắc, và nền văn hóa ông miêu tả cũng là đặc trưng của miền Bắc, nhưng tôi nghĩ người Việt ở đâu cũng sống với những câu chuyện mơ mơ hồ hồ như vậy. Có thể họ không tin, có thể họ không nghe, thậm chí chưa từng biết tới, nhưng những đức tin về điều linh thiêng và hướng đến cái Thiện vẫn là một phần chảy trong họ, chỉ là họ chưa nhận ra mà thôi.

Bởi vì Nguyễn Xuân Khánh viết văn rất đơn giản, cả thiên tiểu thuyết dài như vậy ít có câu nào mà người đọc phải vỗ đùi đánh đét tâm đắc, mà ông lại nhẩn nha kể hết người này đến người kia, nên tôi đọc truyện của ông như một đứa cháu nhỏ quẩn quanh bên chân ông mình nghe kể chuyện. Ông chẳng cố gắng chứng minh điều gì, hay tranh luận cho một quan điểm nào của cá nhân mình. Ông chỉ đơn giản kể lại những câu chuyện nho nhỏ, là tập hợp của những số phận nho nhỏ, họ đã lay động thế nào khi một biến cố xã hội xảy ra, và chính họ cũng là những tác nhân thay đổi thế nào. Truyện của ông không gian thì hẹp, chỉ bó gọn trong phạm vi lũy tre làng, nhưng thời gian thì rộng. Trong "Đội gạo lên chùa", thời gian trải dài từ thời Pháp thuộc cho đến sau khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc, tức là phần lớn của thế kỉ 20, thế nên những biến động đều trải dài theo thời gian. Những con người ấy đã lớn lên, già đi, và biến đổi cùng với xã hội Việt Nam. Đem những câu chuyện nhỏ xếp cạnh nhau như thế, lại khiến người ta thấy rõ tình yêu của mình dành cho điều mình viết về, và yêu luôn cả điều đó, ông khiến tôi nghĩ đến tình yêu trong đạo Phật. Tình yêu không phải hướng đến một đối tượng, mà khi người yêu được tất cả nhân gian, là bản thân người đã trở thành tình yêu. Người viết văn cũng thế, khi họ đã yêu điều gì đó đủ để nó thành một phần của mình, họ không cần phải cố gắng, người đọc cũng sẽ yêu nó và yêu cả người viết.

Phụ nữ và tôn giáo, tôi không biết có phải tôi yêu Nguyễn Xuân Khánh vì ông cũng yêu hai điều này, hay là thật ra, nhờ có ông và sau khi đọc truyện của ông mà tôi mới gọi được tên những điều mình yêu?