Được tạo bởi Blogger.

Thứ Năm, 30 tháng 9, 2010


Time to the elderly is like a noodle in the rain. Chị Tư once wrote that. It’s kind of funny, awkward and scary to witness how memory is so fragile in older people. I was standing there, listened to a story she has just said an hour earlier, with the same tone, the same face expression, the same questions and answers. I was trying not to show in anyway that I have heard this story. Feel like time is coming back. Time is no longer a linear line, but a toy that goes away and comes back on it own course randomly. Time to her, I guess, is something both inside and outside, an alienating entity yet something within herself.

It’s been long since I want to meet someone so bad just because of his/her voice. Funny how I have always thought I have grown out of the stage where a few words can touch me deeply. But yeah, I have chatted with him quite a few times, I know who he is, but listening to his voice is a totally different experience. I was reminded again, how I used to firmly believe that I can love someone just by listening to their voice.

And now, Im afraid to realize that I am becoming too happy when Im with someone. Im not sure if it is happiness or whatever it is. I just don’t want to feel this way, that’s it. And work, and readings, I don’t know whether it is me or the book, but I can’t get it done. So depressing. Im always afraid to disappoint people I care about, by people here, I mean my professors.

The other night, I told myself: “I don’t want to go back”, weird, that was such a fleeting, but peaceful and relieving thought. Probably, the last ties between myself and home are loosening.

Thứ Tư, 22 tháng 9, 2010

Everyday I say something I wish I hadn’t said. Blame them! It’s not that I can’t control my flow of thoughts; it is I am too comfortable around them that I don’t even bother checking my thoughts.

Ok, this is funny. Two days ago, I wondered if I have forgotten how to blush, since I read an (stupid) article about blushing and I couldn’t recall when the last time my face actually turned pink was. Yesterday night, for no clear reason, I blushed in front of my housemates. Blame them! They all laughed like crazy and I was embarrassed (for blushing). This is so unlike me! Yet it is such a relief somehow, because I know now I haven’t lost the ability to blush

Yesterday my house had a tea “party” with a pot of green bean + lotus seeds + tapioca, a pot of jasmine green tea + a fancy set of tea cups, a plate of kiwi, three moon cakes, a plate of raisin cookies, a chocolate cake bar, a can of orange juice and whatever else I can’t remember. Our effort to see the moon failed miserably because the sky was very cloudy as a thunderstorm was on the way. It rained last night. The moon was no where to be seen and I didn’t reminisce whatsoever. Trung thu, to me, has never been a special occasion. I wasn’t indulged as a kid in toys and festival. No memory, no regret, no desperate homesickness. Actually, if I were home, I probably wouldn’t have anyone to go out with anyway. A cozy and lazy evening spent with friends is all I want. I went to bed with an almost bursting stomach. Blame them!

Half of my day was spent cleaning and cooking. The three of them stood watching me cook and commenting that they were doing me a favour by training me for the future of a housewife. “Your mother in law will treat you worse than us, better get used to it when you can”, “Practice now will do you good later”, “Our intensive training will help you find a guy”..non-sense rambling went on while I struggled with a pan full of pork. Since I am sharing the house with 3 guys and 1 girl, all of whom are bigger and taller than me, including the only other girl (and she is a good cook, active and independent, unlike me ^^), I can’t help but feel I am treated as their little sister. But I seriously don’t mind because they are all extremely caring and loving.

Like when I just say casually that I might have to go to Walmart to buy a water bottle and one of them gave me a vividly red bottle. I consider it a Trung thu gift, even though it is not intended to be. But who cares?

Thứ Hai, 20 tháng 9, 2010

-         Đi Toronto không?
-         Đi. Bây giờ á?
-         Ừ. Chuẩn bị quần áo đi, nửa tiếng nữa đi nhớ.
-         Okie

Và thế là chúng tôi đi. Đến một thành phố cách mình gần 200km, nếu đường thông thoáng mất khoảng tiếng rưỡi, nếu đường tắc có thể mất hai tiếng hoặc hơn. Đi mà không cần biết mình sẽ ở đâu, làm gì, thậm chí sẽ ở lại trong bao lâu. Vì chúng tôi có sẵn xe, sẵn người lái, lạc đường đã có GPS, đói đã có thẻ trong ví để tạt vào hàng quán nào đó ăn, đêm cũng đã hỏi được chỗ ngủ nhờ. Đi chẳng cần lên kế hoạch, vạch trước cung đường, định sẵn nơi đến, một đứa hỏi, bốn đứa kia gật đầu, tôi chỉ vớ đúng cái bàn chải đánh răng, hai cái kính, một quyển sách, cái ví và hai bộ underwear, nhét vào túi. Mang thêm áo lạnh, vài cái túi ngủ, hai quyển sách hướng dẫn du lịch mượn từ thư viện thành phố, năm đứa chui vào xe và dắt díu nhau đi Toronto.

Anh Tuấn, người anh lớn của chúng tôi, là kiểu người mà khi ở bên cạnh, bạn có cảm giác nếu trời sập xuống, kể cả nếu bạn không được nhởn nhơ đứng xem anh ý chống hộ, thì ít nhất bạn cũng biết chắc sẽ không bị đè bẹp một mình. Anh là người lặng lẽ chống chọi cơn buồn ngủ bằng ý chí thép để lái xe băng băng trên đường cao tốc tối hù khi chúng tôi vật vờ dựa nhau ngủ ngon lành, cũng là người sẵn sàng lái vòng vèo để mua được đồ ngon và rẻ nếu ai đó trong chúng tôi muốn. Anh cũng là người tôi luôn cười nịnh bợ để san bớt cơm và thức ăn sang bát khi tôi no quá chẳng muốn ăn nữa. Luôn là người ngủ sau cùng và thức dậy đầu tiên, thậm chí trải giường đắp chăn cho chúng tôi mỗi lần đi chơi xa. Anh sẽ nằm ở chỗ lạnh nhất, ngồi ở chỗ gồ ghề nhất, giành làm những việc nặng nhất, ăn khi mọi người đều đã có phần và trả tiền chung để mọi người trả lại  mình sau (rồi chẳng bao giờ nhắc nếu đứa nào lỡ quên mất). Nói chung, anh Tuấn là kiểu người mà khi đi cùng, bạn sẽ luôn cảm thấy an toàn.

Linh, cô nàng tự nhận là nếu nàng là con trai thì bọn con gái sẽ rất sướng, vì cũng theo lời nàng, do nhiễm tính của cụ thân sinh là cán bộ Đoàn, nàng mạnh mẽ, xốc vác, thích chăm lo cho mọi người. Trong mỗi chuyến đi nàng có mặt, nàng sẽ là người tìm hiểu, thăm dò ý kiến và quyết định những điểm dừng chân. Nàng thích vận động, thích khám phá, đã đi nhiều và không thích đến những điểm du lịch thông thường. Còn lại tôi, Vũ và em Linh (lính mới nhập hội), ba đứa hoặc không biết hoặc thế nào cũng được, nhưng không kêu ca, không đòi hỏi, không có lập trường vững vàng và chủ kiến mạnh mẽ. Thế nên chúng tôi làm thành một nhóm hoàn hảo, đi chơi khi trong túi chỉ có một cái bàn chải và hai bộ quần áo lót.

Đến Toronto khi trời đã tối, chúng tôi chỉ kịp hô hào nhóm bạn đang sống đó, là các anh chị đã từng học ở Trent, giờ hoặc đang đi làm, hoặc đang học tiếp lên cao, ra một hàng ăn được anh Tuấn giới thiệu là ngon và rẻ. Bữa tối có mực rán, đậu xào rau, sa lát xoài, cháo măng cá, mì thập cẩm. Ăn uống no say, kế hoạch đi dạo downtown Toronto bị phá sản vì lạnh và ăn no ì ạch quá. Chúng tôi kéo về nhà một anh, đi dạo vài vòng rồi chơi bài Uno. Hơn một giờ sáng, tôi và hai nàng Linh ngủ trên giường của chủ nhà, giường hơi được bơm lên cho Vũ, anh Thành chủ nhà ngủ trên ghế sofa ngoài phòng khách còn anh Tuấn trải túi ngủ nằm trên sàn.

Cuộc đi chơi thực sự bắt đầu vào sáng hôm sau. Kế hoạch được vạch ra là đi tàu điện ngầm đến một festival của dân Ukraine, tiếp đó là đến High Park ngay gần, đi dạo loanh quanh nếu còn sức rồi về sớm. Vì muốn đi chơi trong nội thành Toronto, đi ô tô là tối kiến. Đường cũng không hẹp, nhưng mỗi lần tìm chỗ đỗ xe rất mệt mỏi nên sử dụng hệ thống giao thông công cộng dày đặc của Toronto mới là lựa chọn tối ưu, nhất là khi cuối tuần nếu đi theo nhóm được giảm giá rất rẻ. Những tòa nhà xếp ngay ngắn, cây cối đứng thành hàng và ô tô đi đều tăm tắp, ngay cả thành phố được coi là lộn xộn bậc nhất của Canada do có thành phần dân cư đa dạng sắc tộc, so với Hà Nội vẫn nằm gọn trong nếp quy củ chặt chẽ. Như thế cũng hay, chỉ là với những đứa lớn lên trong mớ hỗn độn và ngày càng hỗn độn hơn gọi là Hà Nội như tôi, sự gọn ghẽ đó nhiều khi đâm ra tẻ nhạt.

Một ngày thứ bảy không nắng đẹp. Cây ở Toronto lá vẫn chưa chuyển màu, trong khi nhiều cây ở Peterborough đã đỏ được nửa tán. Tôi ngồi trong một khoang tàu điện, đập vào tai từ mọi hướng là rất nhiều ngôn ngữ khác nhau. Mặc dù thế, phần lớn thời gian toa tàu rất trầm mặc, vì mọi người lên và xuống rất nhanh, những khuôn mặt thoắt xuất hiện rồi lại thoắt biến mất. Mỗi lần con tàu rùng mình dừng lại, nó chở lên những hơi thở mới, rộn rạo lên được chừng hai phút, rồi lại tan biến hết. Tôi thấy những đôi mắt khép hờ, mái đầu dựa vào cột, những đôi tai bị bịt lại bởi một giai điệu nào đó ngăn cách  người nghe với thế giới. Tôi thấy những ánh mắt hoặc nhìn xuống chân, hoặc nhìn lên trần, nhìn vào một tờ báo, hoặc qua cửa sổ (dù bên ngoài chẳng có cảnh gì), hoặc một điểm vô định nào đó, chỉ không nhìn vào nhau. Tôi nhận ra điều này và lén lấy máy ảnh chụp một gương mặt đối diện thẫn thờ, để ghi lại khoảnh khắc đặc trưng của đời sống thành thị, nơi người ta bị bao vây bởi quá nhiều ánh mắt đến nỗi không dám dừng lại ở bất cứ ánh mắt nào, trên một toa tàu là không gian họ bước lên không phải để dừng lại, mà để thoát ra khi đã đến một không gian khác. Một người phụ nữ cau mày nhìn tôi. Tôi không nhìn thấy nhưng cảm thấy ánh mắt đó. Tôi tự hỏi nếu bây giờ tôi nhìn chăm chú một người lạ trên tàu và tìm mọi cách bắt chuyện, có bao nhiêu phần trăm họ sẽ hồ hở đáp lại, bao nhiêu phần trăm sẽ sờ tay giữ túi xách và bao nhiêu nhìn tôi như một kẻ quái gở. Tiếng phụ nữ đã được ghi âm, nhấn vào từng từ, lập đi lập lại vô cảm. “Arriving at St George. St George Station.” Như một bản giao hưởng ru những tâm hồn thành thị.

Festival của dân Ukraine. Rất nhiều trẻ con và chó, hoặc là vì tôi bị thu hút bởi hai kiểu nhân vật này, hoặc vì trong mỗi dịp tụ họp ngoài trời, ngay khi còn có thể, dân Canada dắt chó và trẻ con theo. Trẻ con rất xinh, chó cũng thế, và đều vô tư như nhau. Chúng tôi đi dọc hai ba dãy phố đầy những gian hàng với những hàng hóa quen thuộc có mặt trong tất cả hội chợ, không có gì hấp dẫn. Đu quay, cầu trượt, nhà phao được dựng lên cho trẻ con. Tôi nhớ đến bãi biển Sầm Sơn, cách 30m lại có một nhà phao, một đu quay, một chỗ ném bóng nhận quà. Có phải trẻ con ở đâu cũng giống nhau không? Niềm vui và những thứ làm chúng vui giống nhau. Chỉ đến khi lớn lên, suy nghĩ, ngôn ngữ và những ràng buộc mới làm chúng khác đi và không hiểu nhau nữa? Tôi nghĩ những điều này khi ngồi bó gối trên vỉa hè, tai nghe tiếng guitar từ một người đàn ông đang gảy đàn xin tiền và ngắm vài bà mẹ giọng đặc sệt vùng Đông Âu nói với hai đứa con một gái một trai hớn hở xin tiền đi chơi cầu trượt, trong khi các bạn tôi say sưa trong cửa hàng bánh ngọt thơm phức mùi bơ ấm.

Phần còn lại của ngày thứ bảy là chụp ảnh, đi dọc theo con đường mòn xuyên đồi trong công viên, anh Tùng từ nhà ra chơi cùng, chở bọn tôi đến gần bờ hồ Ontario mênh mông không thấy bờ và những trảng hoa vàng rực. Kết thúc ngày bằng bữa tối ở hàng đồ nướng Hàn Quốc. Nướng, ăn và uống, cho đến lúc có người bảo đi về thôi.

Thế là chúng tôi đi về. Bạn biết không, ngồi trên xe, lao với tốc độ 110km/h, rúm ró vào nhau, bên ngoài tối hù, trong xe vang lên giọng của Nguyễn Hải Phong, bao nhiêu năm rồi làm gì và được gì, hai nàng Linh lẩm nhẩm hát theo, tôi thấy mình tụt hẳn ra khỏi thế giới xung quanh. Có một số thứ, một số điều, một số người và một số cảm giác, chỉ đặc biệt khi xuất hiện vào đúng một khoảng thời gian nào đó. Ngay lúc đấy, tôi biết là sau này, nếu tôi có lại đi trên đường cao tốc và nghe bài hát này, tôi cũng sẽ không gặm nhấm lại cảm giác này nữa.

Đấy là khi bỗng thấy gần nhau một cách lạ lùng. Như không gian xung quanh đột ngột cô lại và bạn thấy mình được che chở.

Là khi bạn biết sẽ không còn nhiều những chuyến đi ngẫu hứng và vô lo. Những chuyến đi bắt đầu bằng “đi không, nửa tiếng nữa nhé” và kết thúc bằng một cơn buồn ngủ dễ chịu bạn không cần kháng cự khi biết mình đang ngồi trên một chiếc xe cực kì an toàn. Những chuyến đi của một nhóm người trẻ cô đơn, không bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì ngoài chính bản thân mình. Những chuyến đi ý nghĩa vì những điều đã nhìn thấy, nếm thử, trải qua, và quan trọng nhất là vì, những kẻ cô đơn biết mình có nhau.


Thứ Ba, 14 tháng 9, 2010

Đường đi học
Ngày đầu tiên đi học. Bước vào OC (Otonabee College) lại thấy cái mùi quen thuộc, chẳng hiểu nó là hỗn hợp của những thứ mùi gì, có thể là mùi đồ ăn từ cafeteria phả ra, mùi giấy mới mực mới, mùi gỗ mùi lá cây, mùi mồ hôi tổng hợp..nhưng từ hồi mình đến đây tới giờ, lúc nào cũng vẫn cái mùi đấy, đặc trưng cho OC không thể tìm thấy ở nơi nào khác.

Vào lớp ngó quanh, thấy những gương mặt quen thuộc. Học đến năm 4 rồi thì tất nhiên phải nhận ra những gương mặt quen, dù có người nhớ tên người không. Lại cái cảnh ngồi không biết làm gì chờ thầy đến. Bọn xung quanh rủ rỉ trò chuyện, hỏi han nhau về hè vừa rồi. Vì mắt không biết nên dừng lại ở đâu, nên nhìn xuống đất. Bỗng dưng nhận ra các bạn gái trong lớp không hề đi giày cao gót.

Xã hội học nên lớp hơn hai mươi đứa chỉ có một thằng con trai. Lớp học theo kiểu thảo luận nên ngồi theo vòng tròn, mọi người đều nhìn được nhau chứ không phải tất cả hướng lên thầy trên bục giảng. Dưới gầm bàn toàn là xăng đan, giầy bệt, giầy thể thao, dép xỏ ngón, tuyệt đối không có đôi giầy cao gót nào.

Đợt hè vừa rồi đi xe máy cũng hay để ý chân của các chị trên đường. Không những các chị đã đi làm mà cả các bạn sinh viên cũng đi guốc hay giày có gót. Có thể chỉ ba phân thôi, nhưng chắc chắn là có gót. Cũng trong đợt hè đó, mình bị ăn mấy trận tổng sỉ vả của bác vì tội không đi giày cao gót đi làm, rồi được bác tống cho cả một túi giày cao gót đủ màu đủ kiểu trong nỗ lực cải thiện hình ảnh của đứa cháu gái nhếch nhác. Thế nên càng chú ý đến chân của phái đẹp trên đường Hà Nội hơn.

Có thể vì Peterborough là một thành phố nhỏ. Có thể vì Trent là một trường đai học nhỏ. Có thể vì trường có quá nhiều con gái, và con trai thì rất ít bạn hot (theo nhận xét chung của các bạn gái). Cũng có thể vì người Canada nói chung ít đi giày cao gót. Có thể vì đã là mùa thu, thời tiết đủ lạnh để xỏ chân vào tất và giầy. Có thể vì phần lớn sinh viên phải đi bus, và loẹt quẹt đôi giầy nhọn hoắt chẳng có lợi gì khi phải đuổi theo bus hoặc đu đưa theo nhịp xe phanh. Có thể vì rất nhiều lý do, nhưng kết quả cuối cùng là hơn hai chục đôi chân dưới gầm bàn, không đôi nào ngự trên giày cao gót.

Mình nhìn thấy những mái tóc nâu nhuộm màu bạch kim. Mình nhìn thấy những sợi mi cong vút mascara và kiểu mặc áo lớp trong lớp ngoài rất đặc trưng của thời trang Bắc Mỹ. Những điều đã rất quen, thậm chí quen đến nỗi mình không nhận thức được cho đến khi nhớ ra rằng ở Việt Nam người ta rất khác. Ví dụ như những đôi giầy cao gót chẳng hạn.

Có một vài người lớn và cả bạn bằng tuổi bảo mình là đến tuổi thì phải đi giày cao gót, đó là lẽ tự nhiên. Hay ít ra đi làm phải đi giày cao gót. Và ông anh họ yêu quý đã từng hỏi rất thật thà rằng: “tại sao em không thích đi giày cao gót khi nó làm mình đẹp hơn?”. Người yêu của anh không bao giờ xỏ chân vào cái gì cao dưới năm phân, nên anh chỉ biết lắc đầu khi mình nói: “em không muốn khó chịu chỉ để tuân theo định nghĩa về cái đẹp của người khác.”

Và thế là mình nhận ra mình đang hít thở bầu không khí tự do của đời sinh viên ở một thành phố nhỏ của Canada. Không để ý đến ai và không ai để ý đến mình. Không ai phán xét một cái áo cũ hay trầm trồ cái váy mới. Thật là dễ chịu.

Một khởi đầu dễ chịu. Nắng dễ chịu, gió dễ chịu. Tiếng chim xáo xác bên ngoài dễ chịu. Lớp học có một bên tường là kính, nhìn ra ngoài, lá cây đung đưa như múa. Trời xanh dễ chịu.

Ngồi nghe thầy nói về khóa học, những chủ đề, bài tập. Lớp tên là “Sociology of everyday life”, học về cảm xúc. Thế đấy, cái gì cũng có thể nhìn qua lăng kính xã hội học, kể cả những thứ trừu tượng như yêu ghét căm hờn. Một khi học được cách nhìn thế giới theo kiểu này, nó sẽ ở nguyên đó, không bao giờ mất, và người ta cũng không quay lại cách nhìn cũ được nữa. Dù sao thì, cũng thấy hứng khởi khi nghĩ đến đống công việc trước mặt. Vào thư viện, khệ nệ bê một chồng sách về. Không có gì thích thú bằng xếp đầy những chồng sách bao quanh mình để chờ đọc.

Trên đường về cũng không nhìn thấy đôi giày cao gót nào. Thật là dễ thương!


Chủ Nhật, 12 tháng 9, 2010

It was midnight.

I was sleepy like hell after a heavy but fun dinner with friends. They tried to keep me awake until the proper bedtime (according to them!!!) as they said I should fix my sleep pattern to be ready for school starting next week.

It was cold and rainy. The temperature was below 10 degree and I live on the first floor. All of sudden, I wanted someone to watch a movie with me. Not just that. I guess I wanted someone to sit with me, under a blanket. I wanted a human warmth, instead of the heat from my own body under three thick blankets.

Funny how this kind of desire kindled for no reason. It was cold outside, I was sleepy, and I wanted someone to stay with me. Isn't that good enough?

Even more funny, that feeling didn't go away the next morning. It stayed.

Thứ Sáu, 10 tháng 9, 2010

Tiệc BBQ ở nhà chị Tâm để chia tay anh Tuấn ra trường

Ngoài trời 15 độ, trong nhà có thể lạnh hơn, đang quấn khăn quanh cổ, mặc áo khoác, nghe Scarborough Fair ở repeat mode và thấy bồn chồn.

Biết là năm ngoái mình cũng nói câu này nhưng không thể không nghĩ mùa thu năm nay thật là lạnh. Thời tiết y như mùa đông ở Hà Nội ý, đêm xuống khoảng 9-13 độ, ban ngày cao nhất lên được 21 độ, thỉnh thoảng nắng vụt lên một chút, rồi lại mưa bụi mưa phùn ướt rượt.

Tối qua, trong nỗ lực của mọi người để kéo mình vào giờ giấc ngủ tử tế, trong tinh thần chào đón năm học mới, trong cái tiện nghi của việc có sẵn xe của anh Tuấn, mấy đứa kéo nhau ra Starbucks. Uống một cốc Tea Latte vị Earl Grey mà nôn nao chóng mặt. Lúc bước ra ngoài, ánh đèn đường vàng, mưa bụi và nghe hai đứa bạn thốt lên hai bên “ôi giống mùa đông Hà Nội thế”, và “mưa này hay nhờ”, mình lại chẳng mảy may bùi ngùi tí nào.  

Tuần đầu tiên của năm học dành cho các hoạt động ngoại khóa, chủ yếu cho sinh viên năm 1 được giới thiệu về trường và các câu lạc bộ đủ kiểu. Hôm đi lấy thẻ sinh viên, vẫn nhớ như in lần đầu tiên cầm trên tấm thẻ đấy hồi năm 1. Gương mặt của chính mình, tháng 9 năm 2007, đói và mềm rũ nhưng vẫn cười tươi, đang nhìn mình. Nhanh thế, đã ba năm rồi sao. Biết trước là giờ phút này sẽ đến, nhưng vẫn không ngăn nổi mình thấy kì lạ.

Năm 4 rồi, không còn hứng thú làm quen với bạn mới, tham gia vào các hoạt động mới, khám phá môi trường mới nữa. Cũng không hẳn là chán ngán. Giống sự dễ chịu khi trở lại một môi trường mình đã quen. Không còn những cú sốc nữa, không còn sự băn khoăn khó chịu căng thẳng nữa. Người ta bảo, xa nhà 10 năm bạn sẽ trở thành một kẻ không còn quê hương. Không còn khát khao về, mà cũng không còn háo hức đi. Không nghĩ đến ngày rộng tháng dài, chẳng đau đáu về quá khứ hay tương lai.

Mà đến bây giờ, mới tự hỏi tại sao mình lại dấn thân vào một chỗ thế này. Bởi vì nó thật sự là buồn chán quá mức tưởng tượng. Ba năm ở đây vẫn chưa đủ để hết ngạc nhiên về sự tĩnh lặng, hoang vắng và thanh bình của nó. Hình như từ xưa đến nay quay cuồng với những bão tố bên trong mình quá, nên chưa bao giờ đủ lặng để nghe cái tĩnh bên ngoài một cách bình thản. Bây giờ thì nghe, không hiểu tại sao đến giờ mình mới đặt ra cho bản thân câu hỏi quá ư hiển nhiên ấy.

Năm nay ở với Linh, Vũ, anh Tùng và thỉnh thoảng chị Thịnh sẽ qua. Năm cuối cùng trong đời sinh viên, không những được ở với các bạn cùng quê, cùng thành phố, mà còn cùng tuổi. Nếu điều ấy xảy ra sớm hơn thì có tốt hơn không? Chẳng chắc. Sáng nay vừa đánh răng vừa nghĩ, càng về sau mình càng rút vào một vòng tròn an toàn. Năm đầu tiên, chẳng có ma nào ở bên cạnh, bị hành hạ bởi đủ thứ bão tố nội tâm thì phải ở chung một phòng với một con bé người Canada, đến khóc buổi đêm cũng không dám khóc thành tiếng, nước mắt chảy xuống mũi nằm không thở được cũng phải rón rén bò ra nhà vệ sinh, sáng dậy  nói chuyện với mẹ cũng phải thì thào trong cảm giác tội lỗi vì làm nó thức giấc. Năm hai, êm đi một chút, ngồi một mình trong căn chung cư, tung hoành ngang dọc, thỉnh thoảng gom góp đống áo cần giặt tay, hì hục giặt trong bồn tắm cả buổi tối, để laptop repeat bài Tiến về Hà Nội và nước mắt chảy ròng ròng vì nhớ ông, nhưng ít nhất không có ai ở đấy để mình phải giữ ý khi khóc. Năm ba, nghĩ mình đã bình thản được rồi, ở chung nhà với bốn đứa người Canada khác, vẫn hay ru rú ở trong phòng, có con chó con để ôm ấp, và hay sang nhà chị Trang chơi. Có lần nằm khóc Coco bò lên liếm nước mắt ở trên mặt, được ở một mình nhưng cũng không đến nỗi ngoài tiếng ho và tiếng bước chân của mình, trong ba tuần liền không nghe thấy sinh vật sống nào khác. Năm bốn, được ở cùng các bạn của mình.

Có nghĩa là được ăn đồ Việt, nói tiếng Việt, không phải đợi ai đó ra khỏi bếp mới mò xuống nấu ăn vì không muốn cảnh đứa thái thịt đứa xem phim mà không biết nói với nhau câu nào. Nhưng điều đó không quan trọng bằng việc lúc mở cửa phòng ra có người nhìn mình và cười “dậy rồi à?”, có người biết mình đi đâu, và có người gọi hỏi có về ăn cơm không còn để phần. Rất gần với định nghĩa về một gia đình, đúng không?

Tối qua đứng rửa bát một mình, nhớ Bi bèo. Nếu lấy việc sẵn sàng hi sinh cho ai đó làm thước đo của tình yêu thì rõ ràng mình chưa bao giờ yêu ai hơn em trai. Tự nhiên nhớ một buổi tối khác, chị đứng rửa và em đứng tráng bát. Em mình, một đứa con trai, đã cao và to hơn chị nó nhiều, nhưng vẫn bé bỏng trẻ con mà đôi khi tỏ ra người lớn, hoặc thật sự đã lớn, tranh làm việc nặng và vỗ về chị nó. Nếu lấy việc thấy vui khi nói chuyện với ai đó làm thước đo cho sự hợp nhau thì mình không hợp với ai hơn em trai.

Thèm được gọi “Bi thân yêu ơi” rồi kèm theo một câu cầu khiến nào đó, và em mình sẽ ngoan ngoãn đi làm, giống cái cách một người không thể từ chối người họ hết mực yêu quý hơn là cách một thằng em nghe lời chị. Có thể sẽ hạnh họe một lúc, tại sao chị không làm đi, nhưng kết cục vẫn sẽ luôn đi lấy cốc nước, đi mua quả dứa, đi đưa hộ chị cái này cái kia đến nhà này nhà nọ.

Chỉ nghĩ đến thế thôi mà mắt đỏ hoe. Cũng may lúc đó đứng trong bếp một mình.

Thứ Tư, 8 tháng 9, 2010

Có những khoảnh khắc bạn biết mình sẽ nhớ nó ngay khi nó đang diễn ra. Thường thì chúng ta sống với từng khoảnh khắc trong đời, không biết cái nào sẽ ở lại, cái nào sẽ chỉ là một chuỗi trong những khoảnh khắc không tên không để lại chút dấu ấn, và cái nào sẽ được đóng băng trong khuôn kỉ niệm. Tất nhiên là có những ngoại lệ lạ lùng. Ngay khi bạn nói ra một câu gì đó, bạn biết mình sẽ nhớ mãi câu nói này, những điều bạn đang nhìn thấy, nghe thấy và cảm thấy. Đôi khi, những chi tiết sắc nét đến khó hiểu, cả quá khứ, hiện tại và tương lai chứa trọn vẹn trong một sợi tơ thời gian cực mảnh.

Hôm đó, ta đến chỗ bạn như đã hẹn từ hôm trước. Ngoài trời mưa dầm dề. Mưa rớt bão. Ta ngồi trong phòng của bạn, áp má vào cốc trà nóng bạn pha cho, tiếng mưa rơi tong tong ngoài mái. Tự nhiên bạn thốt lên:
- Van, Im gonna miss you so much
- Why? Nụ cười của ta có cả ngạc nhiên lẫn thích thú
- I’ll miss hanging out with you everyday…
Tiếng bạn lùi dần vào một khoảng không xa xôi. Ta không nghe nữa, mà mơ màng gặm nhấm cái lâng lâng của hiện tại. Khi ta đang im lặng, uống trà, nghe mưa, và có một cô gái bảo cô ấy sẽ nhớ ta. Không phải kiểu nói nhớ xã giao khi người ta chia tay, cũng không phải kiểu nhớ chưa cảm thấy nhưng cứ nói trước cho những ngày sau, càng không phải kiểu nhớ là hệ quả đương nhiên suy ra từ một tình bạn đẹp, bây giờ chúng ta yêu nhau thì đương nhiên khi xa chúng ta sẽ nhớ nhau. Ta thấy nỗi nhớ của bạn bảng lảng trong không gian, mềm mại và quấn quýt. Ta chạm được vào nỗi nhớ của một ngày trong tương lai. Nó ngọt ngào và rất thật.

Khi hai đứa ngồi hớn hở ngóng cái chảo bánh xèo vàng rộm ở ngõ Hàng Chiếu, tay đũa tay bát, bạn bảo bạn thấy như đã sống ở Việt Nam được hai, ba năm, ta nghĩ ngay rằng mình cũng thấy như đã quen bạn được hai, ba năm. Hôm đó cũng là một ngày mưa khác. Tháng 8 này Hà Nội mưa nhiều. Nước chảy tong tỏng từ tấm bạt của hàng bánh xèo dựng tạm đó, lụp xụp và tất nhiên là mất vệ sinh một cách rất...Hà Nội. Ta và bạn đã lang thang cuốc bộ trên Bà Triệu, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, phố Huế suốt từ sáng đến tối một ngày khác, gặm nhấm cái ủ ê buồn bã của thành phố ngày mưa và hai đứa lùi lũi đi mà không tìm được người bán rong nào để lân lê nói một câu chuyện cho tử tế.

Cái cảm giác đưa mắt lướt dọc vỉa hè, nhìn thấy một gương mặt quen, có thể chưa nhớ ra ngay đó là ai, nhưng biết chắc chắn mình đã từng gặp, rất thú vị. Sau một tháng lăn lê khu vực xung quanh hồ Gươm, ra đến cầu Long Biên, chợ Đồng Xuân, Nhà Thờ Lớn, hai đứa cuốc bộ, ngồi bệt xuống đất, đứng dựa tường, và nói chuyện với rất nhiều người bán rong, ta mỉm cười, vẫy tay, gật đầu với những con người và gánh hàng ngày thường ta lướt qua, coi họ như một phần của đường phố, thậm chí không coi họ là gì cả, và bỗng khám phá ra bạn đã cho ta nhìn Hà Nội qua một vẻ đẹp mới vừa lạ lẫm, mới mẻ lại cực kì thân quen. Ta nghĩ là ta yêu Hà Nội hơn qua bạn.

Có những ngày hai đứa làm được rất ít, có những ngày làm được rất nhiều. Có những người rất niềm nở, thân thiện. Có những người chua ngoa và gay gắt. Có những cuộc phỏng vấn kết thúc bằng bắt tay, tặng quà, chụp ảnh. Có những cuộc chấm dứt vội vã khi một tiếng còi công an ré lên, hoặc bóng dáng xe cảnh sát lấp ló ở góc đường, hoặc người bán rong nhấp nhổm không yên, muốn bán hàng chóng cho xong thay vì ngồi trả lời cà kê với hai đứa con gái. Có những người nói rất nhiều và rất thật, thậm chí ta cảm giác như họ chỉ chờ gặp ai đó sẵn sàng nghe để trút hết nỗi lòng. Có những người ngại ngùng, ấp úng, và những lời nói vòng vo của họ câu trước không khớp với câu sau. Hai đứa đã nói chuyện với người già, trẻ em, đàn ông, phụ nữ, những cô gái nông thôn ra Hà Nội bán hàng lúc nông nhàn, lẫn những người nuôi cả gia đình bằng mẹt hàng rong của mình. Một chiếc xe đạp, một cái nồi tào phớ, vài cái bát cái thìa, là tất cả cơ nghiệp của họ.

Quá nhiều để kể ra. Trong ta bùng lên thôi thúc muốn biết nhiều hơn, nhiều hơn nữa về cuộc sống của những người xung quanh mình. Ta tự hỏi bao nhiêu năm nay, ta đi qua những con phố này, mà tại sao chưa bao giờ dừng chân một lần, ngồi xuống và trò chuyện với họ. Tại sao ta chưa bao giờ nghĩ đến ngoài chức năng là người cung cấp một mặt hàng, thường là thực phẩm, họ cũng là những con người, với số phận, cuộc đời, và cả những điều bình thường nhưng khiến ta mắt tròn mắt dẹt ngạc nhiên. Tại sao ta phải đợi một cô gái đến từ đất nước xa xôi cách ta nửa vòng trái đất, đến và dạy cho ta biết và yêu những điều, những con người ta luôn cho là của mình?

Đi chậm với bạn, ta sững sờ nhận ra một góc của Hà Nội ta luôn băng qua bằng xe máy, xe đạp, ô tô, trông thật khác với phiên bản của chính nó khi ta đi bộ. Ta không thể nhớ nổi đã bao giờ mình nhìn thấy cái tượng đài hình như bằng đồng đen được dựng ở ven hồ Tây trên đường Thanh Niên chưa, cho đến khi ta ngồi cùng bạn ghi lại một cuộc phỏng vấn với chị bán bóng bay và thấy ánh đèn flash của hai cô gái lóe lên. Một buổi chiều, ta ngồi ở hàng nước mía trên phố Hàng Giầy, cùng bạn phỏng vấn một chị bán bánh trôi bánh chay, phố xá nhộn nhịp buổi chợ chiều, ông cụ đút mì cho đứa cháu lên bốn, người qua người lại hàng xóm chào hỏi nhau, ta xúc động như thấy lại một buổi chiều trong quá khứ, khi ta cũng nhỏ xíu chạy tung tăng trên phố, nơi mọi người đều quen biết nhau và trò chuyện với nhau như người nhà. Ta đã không khỏi mỉm cười với anh trông xe khi anh ý nhìn thấy bóng ta từ xa, đã xấp xải chạy từ bên đường sang, môi còn dính cơm, và đó cũng là một chiều mưa khác. Giống như từ trước đến nay ta yêu Hà Nội qua thơ văn, âm nhạc, hội họa, qua mắt của người khác, qua những kí ức của chính ta. Và bạn giúp ta nhìn thấy Hà Nội qua đôi mắt của mình.

Ta đã đèo bạn trên con xe Cup, từ những ngày đầu tiên mua một cái mũ bảo hiểm, bạn ngồi sau ta hai tay bám chặt vào vai, và lái người ta như thể ta là cái vô lăng ô tô, và mỗi khi đi vào đường đông ta đến khổ để giữ thăng bằng sau những cú giật của bạn khi có một cái xe lượn sát. Rồi những lần sau, bạn ngồi lên xe, ung dung không bám vào đâu cả, lại còn bảo ngồi lên xe của ta thấy cực kì an toàn. Ta không bằng lái, mùa hè này đi xe máy một mình lần đầu tiên, hay đèo một cô tây to gấp đôi ta, mặc váy chữ A xòe qua đầu gối, đầu tóc chia lọn xoắn chặt, cạo hai nửa đầu nên rất được mọi người chú ý, lượn vè vè. Một hôm trời mưa, bạn ngồi sau trùm vạt áo mưa của ta, cười rúc ra rúc rích như đứa trẻ con quá phấn khích khi thích thú với điều gì.

Không phải người nào mới gặp cũng có thể ngồi nói chuyện với nhau lâu. Ta và bạn đã nói rất nhiều. Nói gì cũng đồng ý với nhau, thấy giống và như đã nói hộ cho đứa kia rồi. Cả hai đều ghét đi giày cao gót, sợ phải chưng diện, phẫn nộ với những bất công xã hội, yêu thích nghiên cứu, ngưỡng mộ những người thầy nhiệt huyết, hứng thú với âm nhạc, và trăm thứ linh tinh nữa. Bạn hát, tham gia vào dàn đồng ca, và biết chơi rất nhiều nhạc cụ. Ta đã được nghe kể về những chuyện gia đình bạn không muốn nói với nhiều người. Lần nọ ta kể một câu chuyện của mình và mắt bạn long lanh nước. Bạn kể về những lần gặp gỡ kì lạ, ta kể về những con người chỉ thoáng gặp mà ta không thể quên. Trong suốt một tháng, hai đứa gặp nhau gần như hàng ngày, mỗi lần ít thì 3, 4 tiếng, nhiều thì 8, 9 tiếng, mà ta vẫn cảm thấy mình nói quá nhiều về mình và chưa biết đủ về bạn. Đáng lẽ ta nên hỏi thêm, cần nghe thêm.

Điều gì đó ở cô gái này khiến người ta muốn lại gần. Dù cô ấy rụt rè, nhưng cô ấy thành thật yêu quý những con người xung quanh và muốn tận hưởng những điều xung quanh. Sức sống của bạn như một vòng tròn lan tỏa trên mặt nước. Có những buổi khi trở về, ta ngỡ ngàng với vẻ đẹp của những người bán rong mà ta gặp. Các cô, các chị đẹp rất đằm và duyên. Nụ cười, đôi mắt, cử chỉ…đấy hình như mới là vẻ đẹp thuần Việt mà ta không thấy trong mình lẫn những người bạn của mình. Có phải vì trước nay ta chưa bao giờ nhìn kĩ, hay vì những gương mặt đó được đặt cạnh gương mặt bạn?

Bạn là người đầu tiên phá bỏ hoàn toàn những bức tường ta tự xây nên quanh mình suốt những năm qua. Là người Canada đầu tiên, ta thật sự coi là bạn. Có những người yêu quý ta, nhưng đối với ta, sự quan tâm của họ mang màu sắc của gia đình. Ta cũng không rõ là do bản thân bạn, hay do chúng ta gặp nhau ở lãnh địa của ta, nơi ta không bị ám ảnh mình lẻ loi vì mình quá khác biệt. Có lẽ cả hai. Có một điều ta biết rất rõ, là ta tự tin hơn lên nhiều khi có một người thật sự chứng minh cho ta thấy sự khác biệt của văn hóa, ngôn ngữ không ngăn trở được chúng ta hợp với nhau đến nỗi có thể cùng khóc và cười với những câu chuyện của nhau.

Và bạn đã nhen lên trong ta một ngọn lửa mới. Ta thấy mình trong vai trò của một nhà nghiên cứu, lang thang ở những miền đất lạ và quen, nhưng sẽ nhìn thế giới mới và cũ đó qua lăng kính nghiên cứu xã hội học. Bạn làm ta phải tự vấn liệu mình đã có đủ can đảm để sống ở một nơi mình hoàn toàn đơn độc, không hiểu chuyện gì đang diễn ra và bị người bản xứ nhìn chòng chọc không? Câu trả lời là bây giờ thì không, nhưng mà ta sẽ.

Ta sẽ bắt đầu gom góp can đảm từ bây giờ.

**Cho các bạn không biết: Bạn Noelani sinh năm 87, chuẩn bị lên năm 4 khoa Địa lý con người ở trường đại học Mc Gill, Montreal, Canada. Năm tới bạn ý làm luận văn về chủ đề: cách những người bán rong ở Hà Nội chịu đưng/kháng cự lệnh cấm bán rong ban hành 2008. Tớ làm trợ lý cho bạn ý trong khoảng 27 cuộc phỏng vấn với những người bán rong suốt tháng 8 vừa rồi.

Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2010

Sau rất nhiều tháng ngày suy nghĩ, đắn đo, cân nhắc và lượn lờ xem giá trên các trang web bán đồ điện tử, cuối cùng tôi cũng mua một cái ổ cứng di động. Và tôi cực kì hài lòng thấy những dữ liệu quý giá của mình từ giờ được giữ an toàn trong cái thiết bị ấy. Phim, ảnh, bài viết, thư từ, nhạc nhẽo.. những kỉ niệm, kí ức, suy nghĩ và tình cảm đã được số hóa, cất gọn vào góc tủ và được đảm bảo sẽ không mất đi.

Tôi đã đứng tim nhiều phen với cái laptop Compaq C500 3 năm tuổi. Cứ đang chạy bình thường, bỗng dưng một hôm nó không lên nữa. Hoặc đang chạy nó tắt phụt, và không chịu thức dậy nữa. Tôi sẽ toát mồ hôi cạy cục người sửa hộ hoặc hì hục cài lại Win. Lần nào cũng sợ những kỉ niệm, kí ức của mình sẽ biến mất vĩnh viễn.

Thật ra để ở đó cũng chưa chắc tôi đã giở ra xem lại thường xuyên. Tôi chỉ muốn ngoài trí nhớ của mình, những gì tôi đã từng trải nghiệm sẽ được giữ lại dưới dạng hình ảnh, âm thanh, chữ viết. Để một ngày tôi giở ra và gật gù, đã có thời mình sống như thế..

Thế nên mỗi lần cái máy không lên nữa tôi lại thấy cùng cực. Tôi sợ mọi thứ sẽ hóa ra hư không và vĩnh viễn không thể lấy lại được. Tôi vốn là một đứa thích lưu giữ quá khứ. Có một đợt máy hỏng nhiều, tôi cứ tắt máy đi là lại nơm nớp lo sợ không biết ngày mai bật lại nó có lên nữa không, hay sẽ như hôm kia hôm kìa, lúc tắt đi còn bình thường thế mà hôm sau hí hửng bật thì không thể nào khởi động được nữa.

Hôm đó tôi đi ngủ với nỗi nơm nớp thường trực đó, và nghĩ, giá cảm giác đó cũng đến nhưng không phải với laptop, mà với những người thân yêu của mình. Tôi được nếm trải cảm giác chết đi sống lại của máy tính, nên biết sợ một ngày nó sẽ không thức dậy nữa, biết nó cất giữ quá nhiều tôi, và biết sợ cho sự mong manh của cái bộ máy hơn hai cân đấy.

Tôi nhận thức rõ được rằng nó có thể ra đi bất cứ lúc nào. Khi ra đi nó sẽ để lại cho tôi một khoảng trống. Rất có thể sẽ trống hươ trống hoác, vì tôi đã quên sạch những kí ức tôi nhờ nó giữ hộ. Và tôi cũng thấm thía sự vui mừng khôn xiết của vài lần cứ ngỡ nó đã vĩnh viễn im lìm rồi lại nghe tiếng máy rì rì và đèn hiệu nhấp nháy sau cái ấn tay vào nút khởi động.

Nói ngắn gọn, đối với tôi cái laptop quan trọng, càng quan trọng hơn vì tôi đã được nếm trải sự chết đi sống lại của nó, và hiểu rất rõ nó không bất diệt mà hoàn toàn có thể ra đi bất cứ lúc nào.

Nhưng đấy là bởi vì nó chỉ là một cái máy. Nó nhận tất cả những thứ tôi gửi, tất nhiên trong khả năng của nó, và người ta có thể cứu sống nó sau vài tuần chết lâm sàng bằng cách thay vài bộ phận. Nhưng con người thì không thế. Một khi tôi ngấm được sự mất mát thì người thân yêu của tôi đã không tỉnh dậy được rồi. Trong ý niệm của mình, tôi không hình dung được cái chết. Tôi chưa thực sự mất ai cực kì gần gũi. Và trước khi nhắm mắt đêm đấy, tôi nghĩ giá mình được cho cơ hội thứ hai với những người thân yêu, như với cái máy, để mình biết sự sống là mong manh và cái chết là điều không thể làm lại được.

Tôi hiểu rõ mọi người sẽ không ở bên mình mãi, mà sẽ ra đi một ngày nào đó, xa hoặc gần. Tôi hay sợ những chuyện không hay xảy ra khi mình đi vắng. Nhưng nỗi sợ đó dù sao nó vẫn không thật, ít nhất là không thật bằng nỗi sợ cho cái laptop của tôi.

Giá mà tôi hiểu rõ được rồi vẫn làm lại được, chẳng hạn như bị mất một bài viết đang gõ dở trên word. Nhưng rõ ràng sự sống của con người là không thể quay ngược, trong khi chữ thì gõ lại được, dù mất thời gian. Còn tôi thì vẫn cứ nhởn nhơ.

Ông ngoại đang nằm viện. Viêm tụy và sỏi mật. Ngày một ngày hai, bác sĩ bảo thế….

Thứ Tư, 1 tháng 9, 2010

Sân bay Nội Bài – Hà Nội, 10h sáng ngày 31/8

Sân bay Hà Nội có lẽ là sân bay nhỏ nhất trong tất cả các sân bay mình từng đến. Trong khi những sân bay khác số cửa lên tới vài trăm, thì ở Nội Bài cửa cao nhất hình như là mười mấy. Thỉnh thoảng lại nghĩ giá nước mình giàu hơn, sân bay mình to hơn thì đã có chuyến bay nối thẳng từ Canada về đây, đỡ phải ghé lại bao nhiêu trạm dừng khác cho nhọc mệt.

Lần đầu tiên đi Canada, mình có hẳn một đoàn tiễn đưa hoành tráng đi theo. Có các bác bạn bè bố mẹ, họ hàng nhà mình, vài đứa bạn thân. Hình như đến 3, 4 ô tô đầy chặt. Lần thứ 2, có 4 người, là bố mẹ, anh Huy và người yêu cũ. Lần thứ 3, chỉ có bố mẹ. Rất có thể đến lần thứ 4, thứ 5, thứ 6..mình sẽ chỉ đi một mình. Một khi những chuyến đi trở nên quen thuộc, nuối tiếc sẽ vơi đi.

Ngồi trong phòng chờ một mình, lúc nào chẳng là một mình, cắm mặt vào quyển truyện. Chốc chốc dừng lại, nghĩ về những điều sắp đến và những điều sắp qua. Bước chân lên máy bay, quá nhiều thứ sẽ vụt biến mất. Quần áo thơm giòn mùi nắng, những ngày mưa dầm rả rích từ sáng đến đêm, những chiều đi làm về mệt nghe mùi cơm đang sôi thơm lừng khi vừa bước chân vào nhà, những sáng nằm ườn nghe ông gọi dậy và dỗ dành đi ăn sáng. Có quá nhiều thứ sẽ biến mất sau một cái hẫng người khi máy bay chúi đầu cất mình khỏi mặt đất. Bạn bè, người thân, yêu thương, chăm sóc, một cuộc sống đầy đủ và được bao bọc. Thay vào đó sẽ là những phút sung sướng rồi ghi chép như điên khi đọc được một ý tưởng hay, những buổi BBQ ngoài trời, camping trong rừng qua đêm. Thay bằng lượn lờ trên con Super Cup của ông, hòa mình vào dòng người đôi khi điên khùng khi cố chen chúc để thoát khỏi một ngã tư hỏng đèn tín hiệu, sẽ là những ngày chờ bus, đi bus và muốn phát điên khi thấy một xe đi vụt qua trước mặt.

Hình như năm nào mình cũng đi vào ngày cuối cùng của tháng 8. Những lần trước, mình cứ đi mà không biết điều gì còn đang đợi. Sợ hãi nhiều hơn hăm hở. Lần này mình biết rõ những điều sẽ thay thế cho nhau. Khi biết điều gì đó sắp vuột khỏi tay thì lại rối rít cố giữ cho thật chắc. Những ngày yêu Hà Nội nhất là những ngày sắp rời xa Hà Nội. Có thể giống như một người sắp chết bỗng thấy mọi đường nét của cuộc sống kì ảo và rõ nét hơn. Mình sắp đi khỏi nơi này và thấy Hà Nội đáng yêu cả trong những lúc cáu bẳn nhất.

Có lẽ mình sẽ chẳng bao giờ quen với việc rời nhà.
Sẽ chẳng bao giờ ra đi bình tâm và thanh thản.
Quay trở lại quyển truyện thôi, khéo lại khóc mất. Mấy ngày trước khi đi hay rơi nước mắt vì những điều nhỏ nhặt, cứ nghĩ khóc như thế là đủ cho mấy tháng tới rồi chứ..
Bỏ lại yêu thương sau lưng có bao giờ là dễ dàng đâu. Kể cả khi biết rõ có những yêu thương khác đang chờ đợi.


Sân bay Hong Kong, 3h chiều ngày 31/8

Mình đang ngồi ở sân bay HK, vừa nôn xong (một điều đã không xảy ra nhiều năm rồi). Thật là kinh khủng. Không biết tại ăn phải mì chất lượng kém của VN Airline hay vì sáng bị gọi dậy sớm, hay vì ngồi trên máy bay đọc sách. Chỉ biết là lúc máy bay đang chòng chành chuẩn bị hạ cánh, mình biết là sắp không ổn rồi nhưng cố kiềm chế. Đã nghĩ là có thể nhịn được đến khi xuống sân bay và tấp vào nhà vệ sinh gần nhất. Nhưng không kịp. Điều an ủi duy nhất là mình đã không làm mất cảnh quan môi trường công cộng. Chỉ kịp bụm tay vào mồm, trợn mắt lên quay sang bác ngồi bên cạnh. Bác này người TQ, hiểu ra vấn đề ú ớ quay lại định gọi tiếp viên, nhưng không kịp. May bác ý nhanh trí lôi cái túi nôn ở ghế ra đưa cho mình. Lại biếu luôn mình cả gói giấy ăn trong khi mình quờ quạng bằng một tay tìm giấy ăn trong túi. Lúc đứng lên, con bác ý (thật sự không rõ là gái hay trai) còn cố hỏi: ok? với vẻ quan tâm thực sự.

Mình đã dừng lại ở HK rất nhiều, hình như đây là lần thứ 5, nhưng chưa bao giờ bước ra khỏi sân bay. Mình đã từng ngồi trong phòng chờ máy bay sáng rực đầy kính này, khóc, ăn một thứ quả hoặc bánh gì đó mẹ đưa cho, viết những dòng nức nở, hình như thế. Còn trên đường về, HK là chặng dừng sau chuyến bay vượt đại dương rất dài, 12-15 tiếng. Là nơi đầu tiên mình nhìn thấy nhiều người châu Á sau những năm tháng dài nhìn dân da trắng đến ngán mắt, là nơi mình được bùi ngùi nhìn thấy những thứ thân quen, như cái thói quen chen hàng, và đôi khi nghe thấy giọng tiếng Việt loáng thoáng. Mình đã luôn thèm nghe giọng con trai Bắc, vì đó là điều mình hoàn toàn thiếu. Ở Peterborough có con gái HN và con trai lẫn con gái SG, nhưng một giọng như giọng bố, giọng ông, giọng em trai, giọng những thằng bạn, anh bạn..thì không có.

HK với mình là dấu hiệu đầu tiên của NHÀ, trên quãng đường về, và là điểm cuối cùng của NHÀ mình dừng lại trước khi sang bờ kia của Thái Bình dương.

Lại đang cảm thấy mình bắt đầu một hành trình mới toanh, lại không biết đi tiếp về đâu, trong khi đây đáng lẽ là chặng cuối cùng trong cái hành trình đã bắt đầu 3 năm trước. Lúc ở trên máy bay nghĩ quyền quyết định là ở mình cả mà, sao lại cứ phải mặc định quyết định là khó khăn và mình chưa chắc đã được chọn điều sẽ làm mình hạnh phúc?

À, lúc nãy khi máy bay cất cánh, đã có vài giọt nước mắt lăn ra. Không nghĩ đi đến lần thứ 3 rồi mà vẫn khóc. Không khóc chứ nhờ? Chỉ là vài giọt nước mắt lăn ra thôi. Mình đang rời mảnh đất của tình yêu để đến với mảnh đất của giáo dục, của tri thức. Nghĩ đến thế và tự dưng thấy có nước trôi ra, cứ như là chực sẵn ở đấy rồi.

Sông, những con đường, cánh đồng lúa xanh, những mái nhà..nhỏ dần rồi mất hút trong màn mây trắng xóa. Nhắm mắt lại, bỏng rát.


Sân bay Vancouver, 7h tối ngày 31/8

Mình chưa bao giờ hết thích thú chuyện di chuyển giữa các múi giờ, bởi vì nó rất giống đi ngược thời gian. Mình rời HK lúc 6h chiều ngày 31, rồi lại đến Vancouver lúc 5h chiều ngày 31. Vượt qua Thái Bình Dương, mình lại đang ở thời điểm mình đã trải qua lúc trước, tất nhiên là ở hai vị trí rất xa nhau.

Cũng như sân bay HK, mình đã dừng lại ở Van vài lần, nhưng chưa bao giờ ra ngoài. Cũng giống Hong Kong, Van có cả biển và núi. Nếu như HK là chặng cuối của châu Á, thì Van là chặng đầu của châu Mỹ. Thật ra chỉ đến khi về đến Peterborough, mình mới hoàn toàn có cảm giác mình đã quay lại Canada. Còn Vancouver, thật ra ở đây nhiều dân Hồng Kong đến nỗi người ta hay gọi đùa nó là Hong-couver.

Vừa nãy máy bay đỗ lại giữa Alaska. Mình ngủ vật vờ, hai chân tê cứng vì không vận động mười mấy tiếng, lúc tỉnh dậy thấy lao xao lao xao, có tiếng người ho sặc sụa, quang cảnh khá dáo dác. Mình cứ tưởng mặt nạ dưỡng khí sắp sửa rơi ra rồi. Tự nhiên mở cửa sổ lên thì thấy máy bay đang đứng dưới mặt đất, xung quanh tuyết trắng xóa. Lúc sau nghe thông báo là đang dừng ở Alaska. Mình tưởng dừng tiếp nhiên liệu hay gì đó, mà chẳng hiểu ở trên tuyết không có đường băng thì sẽ cất cánh kiểu gì. Rồi bay lên lúc nào không biết. Mở mắt lần tiếp theo thì thấy đang là là mặt biển, đoạn này thì tưởng chuẩn bị lôi áo phao ra nhảy dù xuống biển. Nhưng không, máy bay đỗ xuống sân bay của một hòn đảo này đó. Rồi một toán người đi lên và hành khách được yêu cầu ngồi im tại chỗ không nhúc nhích. Trí tưởng tượng tiếp tục được phát huy tích cực, mình nghĩ ngay đến người ta phun thuốc sát trùng, hoặc là tìm tội phạm chạy trốn. Nhưng cũng không nốt. Ngó thấy một anh đeo ống nghe tim phổi. Chắc là có ai đó bị ốm nên mới phải hạ cánh khẩn như vậy.

Và tất lẽ dĩ ngẫu, mình đã lỡ chuyến bay đến Toronto lúc 4 rưỡi. Hình như máy bay đáp xuống lúc 5h kém 15. Và giờ thì mình chuẩn bị phải bay đến Edmonton, rồi mới từ đó bay về Toronto. Lúc đứng xếp hàng chờ đến lượt làm thủ tục, mình thấy bảo hoặc sáng mai bay và tối nay ngủ lại ở đây, hoặc đêm khuya nay bay. Thế đấy, cuối cùng thì mình không phải chờ lâu lắm, nhưng lại thêm một chặng đường nữa. Vậy là mình dừng lại 5 sân bay trong chuyến đi này.

5 chặng dừng và trên dưới 40 tiếng vạ vật. Đang tự hỏi tại sao mình phải đi xa thế. Thật ra không có khái niệm là mình đang ở châu Mỹ đâu. Mỗi lần nghĩ đến châu Mỹ vẫn hay tưởng tượng ra những người thổ dân ở vùng Nam Mỹ, với nhiều hình thù vẽ trên xương sống, cái giáo và mũ lông chim. Như kiểu Canada và châu Mỹ là 2 khái niệm không liên quan đến nhau trong đầu mình. Mà mới nghĩ ra là, đây là điểm xa nhất mình có thể đi. Kể ra trái đất cũng không đến nỗi to khó tưởng tượng. Đường kính của nó, trong trường hợp của mình là một đầu Ca một đầu Việt dài 14 ngàn km. Tại sao mình lại chọn điểm xa nhất để đi như thế nhờ?

Lúc nãy mình xếp được 2 cái vali lên xe đẩy một cách nhẹ nhàng và hiên ngang nhớ. Xời. Mấy ông to béo đứng ở đấy mà chẳng ông nào ra giúp gì cả. Nhưng mình đã bê được lên, xếp gọn gàng tử tế để è cổ ra đẩy. Tự thấy là mình siêu phết, 2 vali mỗi cái 20 cân, 1 cái balo to đeo sau lưng và một túi nhỏ đeo bên vai, đi phăm phăm nhanh hơn mấy người khác. Mùi đầu tiên chào mừng mình khi đặt chân lên Canada, vẫn như mọi khi, là mùi nước hoa và mùi mỡ rán của đồ ăn nhanh. 2 loại mùi này in đậm trong đầu mình với tư cách là những mùi đặc trưng nhất của đất nước này.


Sân bay Edmonton, 9h tối ngày 31/8


Chuyến bay từ Vancouver đến Edmonton khá ngắn, chỉ hơn một tiếng. Điều duy nhất mình nghĩ đến là hi vọng sân bay này nhỏ, vì nếu không sẽ không kịp thời gian để lên chuyến bay đi Toronto đã sắp giờ. Máy bay từ Van hoãn một tiếng, nên thay vì có tiếng rưỡi để chuyển máy bay thì mình chỉ có hai mươi phút. Nếu lại lỡ chuyến bay này nữa thì mệt mỏi lắm.

Rất may, đúng là nó nhỏ thật. Mình là một trong những hành khách cuối cùng phi lên máy bay, và vừa ngồi yên vị thì máy bay khởi hành. Chưa có chuyến đi nào chật vật như lần này. Buồn ngủ rũ ra như tàu lá. Ngồi trên máy bay, ngồi chờ ở sân bay, đứng xếp hàng làm thủ tục, giá được ngả lưng xuống nằm một lúc thay vì cứ ngoẹo đầu ngủ gật rồi lại co quắp hết bên này đến bên kia thì tốt. Thật ra nếu bị lỡ chuyến mà được ngủ trên một cái giường êm và không phải trả tiền thì tình hình cũng không đến nỗi quá tệ.

Sân bay Toronto, 6h sáng ngày 1/9

Mình chưa bao giờ dừng lại sân bay này lâu, vì cả 2 lần trước đến đây đều có người chờ sẵn để đón. Lần này tự đi một mình. Lại 2 tay kéo 2 vali, vai đeo balo và túi xách.

Lúc máy bay chuẩn bị đáp xuống, thấy phía chân trời đang dần ửng hồng. Giống hệt ấn tượng đầu tiên của mình về một ngày thu ở Canada 3 năm trước. Nắng vàng rộm. Khởi đầu tươi đẹp của một tháng 9 dịu dàng.

Những con đường vẫn rộng và nhiều ô tô như thế. Bác lái xe bus từ sân bay về bến xe Greyhound rất dễ thương, thỉnh thoảng bác hát một mình, toàn gọi mình là my darling, my baby, young lady. Thật ra mình chưa bao giờ hết thích nghe người khác gọi bằng những danh từ êm ái như vậy, và mỗi lần nghe đều ngoác miệng ra cười. Trên quãng đường từ chỗ đỗ xe đến bến Greyhound, có một bạn thấy mình lặc lè kéo 2 cái vali to tướng đã kéo giúp một cái. Người tốt cũng chẳng đến nỗi hiếm lắm.

Năm nay mình sẽ lên Toronto nhiều hơn, và nhất là sẽ đi một mình. Tự nhủ là mình sẽ cố gắng hiểu rõ thành phố này hơn. Không phải bằng cách đi bus, hay ngồi trong ô tô phóng vù vù qua những con đường. Toronto từ trước đến nay trong đầu mình chỉ là chỗ để đi chợ mua mấy nguyên liệu châu Á không tìm được ở Peterborough, hoặc đi ăn phở khi anh Tuấn hứng lên muốn chở đi, hoặc mua sắm khi chị Trang nổi máu thèm mua sắm. Vụt qua tầm mắt là những con hồ to hơn cả nước Việt Nam mình, những cây cầu, bảo tàng, nhà thờ, những cánh chim bồ câu. Mùa đông dài đằng đẵng của xứ sở này cũng là một cản trở, vì chắc mình không lang thang được nhiều, nhưng đặt cố gắng mỗi lần lên đây đi thăm một địa điểm chắc là làm được đấy nhỉ.

Peterborough, nửa đêm ngày 1/9

Thế là cuối cùng mình cũng đến được một nơi để dừng chân. Xuống bus Greyhound, 2 cái taxi duy nhất đứng ở đó đã có người lên. Điện thoại thì không dùng được. Mình đứng ngó một lúc cuối cùng đành quyết định sẽ đi bộ. Một minh chứng rõ rệt cho sự heo hút của Peterborough là không có cái taxi nào đi loăng quăng trên đường để vẫy. Không có điện thoại coi như xong.

Mình vừa lôi vừa kéo vừa đẩy. Thật ra 2 cái vali không mệt bằng cái balo có laptop nặng trịch ở trên vai. Đau và mỏi đến phát ho. Mọi khi toàn đi bus, không nghĩ là đoạn đường dài thế này. Mình ì ạch như con sên, cứ chốc chốc lại dừng lại, đứng nhăn nhó, mỗi lần qua đường phải hì hục nhất từng cái vali xuống lòng đường, rồi lại hì hục nhấc lên và tiếp tục kéo.

Có rất nhiều người nhìn mình, có ánh nhìn tò mò, có ánh nhìn ngạc nhiên, có ánh nhìn thương cảm. Tất nhiên rồi, một đứa con gái bé tí (theo tiêu chuẩn số đo Canada thì mình bé xíu), ì ạch vật lộn với một mớ hành lý to tổ chảng trên đường nắng chang chang. Cuối cùng, khoảng gần một nửa chặng đường thì có một bác đang đi ngược chiều nhìn mình và bảo “để bác giúp cháu một tay”.

Thật ra có những thứ mình nghĩ là không làm được chẳng qua vì mình có quyền không làm. Nhưng khi lựa chọn đó không còn nữa, nghĩa là mình bắt buộc phải làm, thì đấy lại là chuyện khác.

Kéo 2 cái vali và vác 1 cái balo to uỵch như thế, đi bộ giữa trời nắng chang chang như thế để làm gì? Có ai ngợi khen là mình đã vượt qua chính mình, chiến thắng bản thân và lập nên một kì tích không? Không, tất nhiên là không. Dù rõ ràng với mình việc đấy khó khăn hơn ngồi đọc vài quyển sách nghìn trang và viết một bài luận được cho là xuất sắc. Chẳng qua vì không còn lựa chọn nào khác. Phải làm. Đấy là câu trả lời cho câu hỏi tự dưng tấy lên và nhưng nhức suốt những tiếng đồng hồ đằng đẵng ngất ngư trên máy bay. Tại sao mình phải đi xa thế, điểm xa nhất mình có thể đi, là đầu kia của đường kính thế giới? Cái này mình đã trả lời hồi lớp 11 rồi, nhưng đã quên mất trong đống bùng nhùng gọi là tương lai, mong muốn, sở thích, trách nhiệm và khả năng. Đấy, chính là việc kéo vali đấy, phát biểu thành lời là tự ép bản thân vào những giới hạn, để xem mình có thể chịu được đến đâu.

Lang thang mãi, rồi cũng có chỗ để dừng lại, tạm gọi là nhà ở cách xa nhà nửa vòng trái đất. Những nơi như sân bay không phải là chỗ dừng chân, mà chỉ là điểm nối để đi tiếp những chặng đường mới. Mình lại phải đối mặt với một đống bừa bộn. Lại những công việc cũ theo trình tự cũ. Sắp xếp, dọn dẹp. Phòng mới rộng, hình như là căn phòng rộng nhất mình từng thuê, cạnh bếp và biệt lập với các phòng khác. Điểm bất lợi lớn nhất là nó rất xa WC, và mùa đông có lẽ sẽ lạnh. Điểm bất lợi thứ nhì là không có tủ quần áo. Lúc chiều nghĩ sẽ để quần áo trong vali thay vì bỏ tiền ra mua một cái tủ giấy, vì cũng không ở đây lâu, nhưng mà buột thốt lên: mình thực sự không thích sống tạm bợ tí nào..

Chỉ là ở trọ, vì thế không muốn bỏ quá nhiều công sức cho nó. Minh sẽ rời đi sớm thôi. Nhưng cả cuộc đời này, chẳng phải cũng chỉ là một lần ở trọ dài hay sao?