Lưu trữ Blog

Được tạo bởi Blogger.

Thứ Năm, 12 tháng 8, 2010

1. Cửa hàng tớ làm rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi chỉ có mỗi một nhân viên, là tớ. Vợ chồng ông chủ hàng, ông chồng một mình nấu ba bếp, còn bà vợ giao dịch với khách kiêm chân chạy việc linh tinh, tớ đứng nghe điện thoại, gói đồ ăn, chuẩn bị mấy thứ lặt vặt và năm nay, sau một năm thử thách, mới được tin tưởng cất nhắc kiêm thêm nhiệm vụ nhận tiền. Không có bàn ăn, khách chỉ đến mua mang về, hoặc gọi điện cho cửa hàng mang đến. Mỗi khi có khoảng năm tờ giấy đợi đến lượt nấu kẹp phất phơ trên sợi dây là cả nhà hàng, tức là ba nhân mạng gồm tớ, cuống hết lên. Mỗi khi có vài ba vị khách lố nhố đứng ngồi đợi thức ăn ở bên ngòai là cái phòng bé xíu không có chỗ mà lách. Trình bày thế để thấy rằng cái nhà hàng đấy thật ra là chỗ bán thức ăn, chứ không phải nhà hàng theo nghĩa người ta đến để được phục vụ, khoe quần áo đẹp và nói chuyện tình cảm. Và nhấn mạnh là nó rất nhỏ, cả về diện tích vật lí lẫn phong cách làm ăn.
2. Thế mà nhà hàng có một vị khách ngày nào cũng tới chỉ để uống một cốc trà, rồi về. Chỗ này không phải để ăn, càng không phải để uống trà, bên cạnh quầy tính tiền chỉ có duy nhất một cái bàn và hai chiếc ghế cho khách ngồi đợi khi thức ăn chưa kịp ra. Hồi mới làm, tớ nhìn bà cụ ngày nào cũng đến uống một ly trà, thấy bà bôi môi son, đánh má hồng, đeo hoa tai lủng lẳng,thì buồn cười lắm. Chỗ này người ra kẻ vào, không phải quán nước, không có ai dừng lại lần thứ hai để nhìn bà. Hai vợ chồng chủ hàng là người Trung Quốc, bà vợ nói tiếng Anh khá hơn, đủ để nghe khách gọi món, ghi lại địa chỉ và số điện thoại, còn ông chồng chỉ nói mỗi câu “Hi, how are you” là phát âm chuẩn nhất. Thế là đủ hiểu bà cụ không có nguồn vui bạn bè từ những con người này. Bà nói rất nhiều. Mỗi khi vãn khách, tớ vừa đặt mông ngồi xuống chiếc ghế đối diện là bà bắt đầu nói. Tớ nhiều lúc chỉ mỉm cười gục gặc đầu. Bà cứ nói cho đến khi điện thoại réo lên và tớ hớt hải chạy đi nghe máy, có lúc nghe xong quay lại thấy bà vẫn đang nói. Nhiều lúc khách ngồi chờ, bà hỏi chuyện người ta đến nỗi thức ăn ra rồi mà lần khần mãi họ chưa dám bỏ đi.
3. Tớ thấy buồn cười, ngỡ bà cụ đã từng là một cô gái điệu đà lắm, chăm chút đến vẻ ngòai của mình đến từng sợi tóc, và không thể ra khỏi nhà với khuôn mặt mộc. Có lẽ cô nàng đỏm dáng năm nào khi thành một bà cụ tóc bạc trắng như mây vẫn giữ nguyên lối sống đó. Nhưng cho đến khi tớ biết là một ngày bà đến đây ba lần, một lần buổi sáng, một lần buổi chiều, một lần buổi tối, thì thoạt đầu tớ thấy kinh hãi, sau rồi xót thương. Mỗi ngày ba cốc trà, bà cần mẫn đến ngồi bên chiếc bàn trong gian phòng người ta ngồi đợi để lấy vài túi đồ ăn Trung Quốc, trong khi một hộp trà nguyên vài chục túi, một túi sữa, một gói đường, tất cả cộng lại vẫn ít hơn nhiều về giá trị kinh tế, và ít hơn cực nhiều về giá trị thời gian, công sức bà bỏ ra để tới đây, nhất là vào những ngày tuyết rơi đường trơn trượt, và bà phải chống gậy dò từng bước. Bà đến, tự lấy gói trà để sẵn trong tủ, tự rửa cốc, rửa bình, rồi tự lấy sữa trong ngăn lạnh, tự lấy đường dưới gầm bàn, ngồi pha cho mình một tách, rồi uống, rồi lại rửa các thứ, cất vào chỗ cũ, để lại hai đô trên quầy kính, và đi về. Ngày nào cũng ba lần như thế, mà lần nào cũng môi son, má hồng, quần áo chỉnh tề cùng những lích kích nào ô nào gậy nào khăn nào mũ. Và những đôi hoa tai lóng lánh khác nhau.
4. “Bà là con một, bà không có anh chị em gì cả.”
“Bà đã từng có người yêu. Bà đính hôn với chàng trai đó. Nhưng rồi chàng đi lính năm mười chín tuổi, không bao giờ trở về. Bà không yêu ai sau đấy nữa.”
“Ngày xưa tóc bà màu vàng óng, nhưng sau một đêm năm bà mười chin, bỗng dưng tóc bạc trắng. Sáng dậy bố bà không tin vào mắt mình, rồi bắt bà đi bác sĩ. Bà đi nhiều bác sĩ nhưng họ chẳng tìm ra bệnh gì, tóc bà cứ trắng như thế đến bây giờ. Có lúc sếp bà bắt đi nhuộm lại, trông cho trẻ, nhưng bà mặc kệ.”
“Ngày mai bà đi tiêm phòng đấy. Bà phải bắt xe bus lúc 8 rưỡi sáng.”
“Hôm nay thằng bé Jason gọi cho bà, lâu lắm nó mới gọi cho bà. Nó là con của một người bạn, nhưng nó gọi bà là bà ngoại. Thằng bé khôn lắm, xin bà Noel này tặng nó một con gấu để nó tặng cô bạn gái cùng lớp.”
Những mẩu chuyện vụn tớ loáng thoáng nghe trong khoảng thời gian giữa hai lần ré lên của cái điện thoại. Trong những câu chuyện đấy, bà bi bô kể về bố, về mẹ, về những người bạn cũ, về thằng bé Jason bà đã từng bế lúc còn nằm nôi. Thời gian với người già như cọng bún mắc mưa, nó mềm oặt, muốn kéo muốn nắn kiểu nào cũng được (ý này của chị Nguyễn Ngọc Tư). Thoắt cái bà ở hiện tại, khoe ngày mai sẽ đi mua giày, rồi thoắt cái bà lại miên man cùng mẹ cùng bố từ biết bao năm trước. Tớ tự hỏi không hiểu một người gần tám chục tuổi, không họ hàng thân thích, không chồng con, không có gì để trông đợi và cũng không gì để núôi tiếc, lấp đầy một ngày như thế nào. Có phải vì thế mà việc ngày ba lần đi ra nhà hàng Trung Quốc uống trà một mình của bà thành một thứ gần như nghi lễ? Bà không bao giờ bỏ một bữa trà nào, kể cả những ngày tuyết rơi mù mịt. Đôi khi, bà bảo tớ: “Cháu là một cô bé ngoan. Ra bà ôm cái nào.” Thế là bà ôm tớ, rồi đội mũ, cầm gậy, đi về.
5. Ông chủ hàng bảo tớ: “Lát ra nói với bà già là giấy phép kinh doanh của tôi là nấu ăn cho khách mang đi, nếu ngày nào bà cũng đến đây thì tôi sẽ bị người ta để ý rồi kiểm tra, phiền phức lắm.” Tớ giãy nảy, không chịu nói. “Nhiệm vụ cao cả” được giao lại cho chị đưa đồ ăn. Thấy vợ chồng ông chủ càu nhàu với nhau, chắc bà vợ không muốn làm thế, nhưng không dám cãi lời chồng.
Lúc tớ gói xong một túi đồ ăn ra ngồi xuống bàn, thông điệp đã được chị kia chuyển đi. Tớ cúi gằm xuống mấy tờ thực đơn, giả như không biết gì. Bà cụ lắp bắp bảo: “Tôi sẽ không bao giờ quay trở lại nữa. Tôi sẽ không gặp bọn trẻ con nữa. Nếu họ muốn tôi đi, tôi sẽ đi.” Bà giận đến nỗi đi quay đi quay lại vài lần mới tìm được chiếc ô. Bên ngòai mưa tầm tã. Ai cũng hiểu là ông chủ hàng khó chịu vì cái bàn duy nhất trong gian phòng nhỏ xíu của ông, đáng lẽ dành cho khách ngồi chờ, bà lại chiếm mất một ghế. Dù mỗi dịp Noel, bà tặng quà hai cậu con trai ông, và ông thỉnh thoảng cũng tặng bà một bát súp miễn phí, sáu đô cho ba cốc trà mỗi ngày của bà không mua được nụ cười xã giao trên khuôn mặt ông nữa. Bà nhặt ô lên, đội mũ, run rẩy bước ra cửa, nói với lại: “Bảo với họ là tôi bị tổn thương lắm.” Cửa mở ra rồi sập lại, gió lạnh ùa vào buốt tay.
6. Những dòng tên món ăn nhảy múa lẫn vào nhau, xoay tròn. Tớ thấy mình năm tuổi, đứng tựa cửa, nhìn một bà già ăn xin đang múc nước cống khỏa lên vết thương trên bắp chân chảy máu ròng ròng, tai nghe tiếng bát đũa lách cách và có người nói vọng ra: “Đi đi, không có gì đâu.” Ở đây không có ai xin ai, nhưng cảm giác bất lực trước một hành động tàn-nhẫn-một-cách-bình-thường thì vẫn y hệt như thế.
7. Chắc từ giờ bà cụ sẽ rất ghét người Trung Quốc, sẽ kể lại chuyện này cho bất cứ ai chịu lắng nghe. Nhưng không hiểu cái gì sẽ thay thế vào nghi lễ uống trà ngày ba lần của bà, hay bà sẽ chỉ còn lại một màu trắng xóa phơ phơ của những ngày vô nghĩa dài dằng dặc đợi ở phía trước?

0 nhận xét:

Đăng nhận xét